|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 10/2021/HNGĐ-PT Ngày: 08 - 6 - 2021 V/v Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hà.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn; Bà Thái Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 12/2021/TLPT-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 01/2021/HNGĐ- ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2021/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hùng P, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 2, xã H1, huyện H, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm 2, xã H1, huyện H, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1960; địa chỉ: Xóm 2, xã H1, huyện H, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh P, ông T và bà P: Bà Nguyễn Thị Thoa, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Cao Trí, Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
* Người kháng cáo: Anh Nguyễn Hùng P, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Hùng P trình bày: Anh P và chị Nguyễn Thị X kết hôn ngày 14 tháng 12 năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H1, huyện H, tỉnh Nghệ An; hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính tình, không thể sống chung với nhau được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là Nguyễn Hoàng O, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 và Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2012; hiện nay, hai con chung đang ở với anh P. Nếu ly hôn, nguyện vọng của anh P được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chị Nguyễn Thị X trình bày: Về mối quan hệ hôn nhân, ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như anh P trình bày. Chị X đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Vợ chồng có hai con chung có họ, tên và ngày, tháng, năm sinh như anh P khai, ly hôn, nguyện vọng của chị X là được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Trường hợp pháp luật không cho phép thì mong muốn Tòa án xem xét cho nuôi một cháu để đảm bảo quyền làm mẹ.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng xây dựng được một ngôi nhà 02 tầng, chưa hoàn thiện, trị giá 700.000.000 đồng. Ngôi nhà được làm trên đất ông Nguyễn Thế T, bà Phạm Thị P (bố mẹ của anh P) do bố mẹ anh P đã nói cho đất từ năm 2013. Trong thời gian làm nhà, ông T và bà P có cho vợ chồng số tiền 170.000.000 đồng để làm. Quá trình làm nhà, chị đã vô phường, vay mượn tiền từ thủ quỹ nhà trường để làm nhà và phục vụ nấu ăn cho thợ. Chị X yêu cầu chia đôi tài sản, chị được hưởng ½ giá trị ngôi nhà là 350.000.000 đồng. Ngoài ra, chị X yêu cầu anh Nguyễn Hùng P phải trả số tiền 18.000.000 đồng để ổn định, tạo lập nơi ở mới sau khi ly hôn.
Theo anh P: Ngôi nhà 02 tầng giá trị thống nhất 700.000.000 đồng là do bố mẹ anh (ông T, bà P) xây dựng, vợ chồng không có đóng góp gì. Đối với yêu cầu của chị X về chia đôi giá trị nhà và yêu cầu hỗ trợ để khởi tạo nơi ở mới, anh không đồng ý vì bản thân anh là lao động tự do, thu nhập thấp.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P trình bày: Ngôi nhà xây dựng trên đất của ông T, bà P là do ông bà tự xây dựng, chị X không đóng góp gì vào việc xây dựng ngôi nhà nên không chấp nhận chia tài sản chung. Tuy nhiên, ông T và bà P đồng ý cho chị X 50.000.000 đồng nếu chị X để lại hai đứa cháu cho ông bà nuôi.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh P, chị X thống nhất giá trị ngôi nhà là 700.000.000 đồng; ông T, bà P đưa 300.000.000 đồng để xây dựng, còn lại 400.000.000 đồng do vợ chồng vay mượn để làm nhà.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 01/2021/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 61, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27, Điều 28, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Hùng P ly hôn với chị Nguyễn Thị X.
- Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Hoàng O, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2010 cho chị Nguyễn Thị X; giao con chung cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2012 cho anh Nguyễn Hùng P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P và chị X.
- Về tài sản chung: Buộc anh Nguyễn Hùng P, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P phải trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền 150.000.000 đồng; chia kỷ phần anh Nguyễn Hùng P, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P mỗi người phải trả 50.000.000 đồng; buộc anh Nguyễn Hùng P phải trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền hỗ trợ tạo lập nơi ở mới là 18.000.000 đồng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 01 năm 2021, anh Nguyễn Hùng P có đơn kháng cáo xin được nuôi 02 cháu và không đồng ý trả tiền tài sản cho chị X. Chị Nguyễn Thị X cũng có đơn kháng cáo xin nuôi 02 cháu và đề nghị xem xét lại phần chia tài sản. Ngày 10 tháng 3 năm 2021, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P có đơn kháng cáo không chấp nhận phần quyết định về tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[2.2] Về con chung: Anh Nguyễn Hùng P và chị Nguyễn Thị X có hai con chung là Nguyễn Hoàng O và Nguyễn Khánh H. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và giao cháu Nguyễn Hoàng O (con gái) cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Khánh H (con trai) cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo về việc giao cả hai con chung.
[2.3] Về tài sản chung: Ngôi nhà 02 tầng có giá trị 700.000.000 đồng là tài sản chung của anh P, chị X, ông T và bà P. Cần giao ngôi nhà cho anh P, ông T, bà P được quyền sở hữu và buộc họ phải trích thanh toán tiền giá trị chênh lệch cho chị X. Sau khi trừ đi số tiền 300.000.000 đồng ông T, bà P đã đóng góp, phần còn lại 400.000.000 đồng chia đôi cho anh P và chị X mỗi người 200.000.000 đồng. Chị X được nhận lại tổng cộng 200.000.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hùng P, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P; chấp nhận một phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị X, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng mức giá trị tài sản được chia và án phí sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 61, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; tuyên xử:
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng O cho chị Nguyễn Thị X; giao con chung Nguyễn Khánh H cho anh Nguyễn Hùng P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Giao cho anh Nguyễn Hùng P, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P được quyền sở hữu một ngôi nhà 02 tầng trị giá 700.000.000 đồng. Buộc anh Nguyễn Hùng P, ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị P phải có trách nhiệm trích giao trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền 200.000.000 đồng.
- Buộc anh Nguyễn Hùng P phải trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền hỗ trợ tạo lập nơi ở mới là 18.000.000 đồng.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND huyện Hưng Nguyên; - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên; - UBND xã H1; - Các đương sự; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hà |
Bản án số 10/2021/HNGĐ-PT ngày 08/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 10/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm giữa anh P vs chị X
