Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC


Bản án số: 10/2021/DS-ST
Ngày 05 - 7 - 2021
“V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế;
huỷ Quyết định về việc nhận thừa kế,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_______________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Bằng, Bà Đỗ Thị Kim Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phùng Ngọc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2018/TLST- DS ngày 21 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế; huỷ Quyết định về việc nhận thừa kế, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST - DS ngày 10 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1972, (Có mặt).
    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    Nơi cư trú: Thôn X, xã E, huyện E, tỉnh Đắc Lắc.
  2. Bị đơn: Bà Chu Thị A (tên gọi khác là U), sinh năm 1960, (Có mặt).
    Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV I thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chỉ: Số Y, đường A, xã Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Trần Văn F, sinh năm 1969, (Có mặt). Nơi cư trú: Khu Z, xã K, huyện D, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • 3.2. Bà Trần Thị W, sinh năm 1966, (Có mặt). Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • 3.3. Chị Trần Thị O, sinh năm 1992, (Có mặt). Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • 3.4. Bà Đào Bích R, sinh năm 1971, (Có mặt). Nơi cư trú: Khu Z, xã K, huyện D, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • 3.5. Ủy ban nhân dân huyện B; địa chỉ: Thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện hợp pháp: Ông F Văn S – Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B (theo văn bản ủy quyền số 299/UBND-TNMT ngày 20/3/2019), (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Người làm chứng:
    • 4.1. Ông Nguyễn Ngọc Q; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt);
    • 4.2. Ông Chu Văn J; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2018, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 26/10/2018 và quá trình tố tụng tại Toà án, nguyên đơn ông Trần Thanh L trình bày:

Bố ông là cụ Trần Mạnh M (sinh năm 1934, chết năm 2004); mẹ ông là cụ Phan Thị P (sinh năm 1937, chết năm 1989). Bố mẹ ông sinh được bốn người con gồm: Ông Trần Văn L1 (đã chết năm 1994, ông L1 có vợ là bà Chu Thị A và con là Trần Thị O); ông Trần Văn F, sinh năm 1969; bà Trần Thị W, sinh năm 1966 và ông. Ngoài ra, cụ M, cụ P không có con riêng hay con nuôi nào khác.

Khi còn sống bố mẹ ông tạo dựng được khối tài sản gồm: Quyền sử dụng đất có diện tích đất 456m2 (trong đó gồm 300m2 đất ở và 156m2 đất vườn) thuộc thửa số 15, tờ bản đồ 11T được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện T1 (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số D0022386, số vào sổ 1029 ngày 24/12/1993 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất là 03 gian nhà cấp 4 tại Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguồn gốc thửa đất nêu trên là do UBND huyện T1 (cũ) cấp cho cụ P và cụ M theo tiêu chuẩn là công nhân của Nông trường T1.

Năm 1989, cụ P chết, khi chết cụ P không để lại di chúc, sau đó cụ M là người trực tiếp quản lý và sử dụng toàn bộ thửa đất nêu trên. Khi đó, ông chưa có gia đình nên vẫn ở cùng với cụ M. Năm 1996, ông lấy vợ ra ở riêng, đến năm 1999 thì cụ M ở đó và nuôi một người con của ông (cụ M không ở cùng người con nào). Khoảng tháng 01 năm 2004 (âm lịch), cụ M xây lại nhà, các con không có đóng góp gì, chỉ có ông F góp 50.000.000 đồng, có sự chứng kiến của ông và bà W. Cụ P và cụ M là công nhân viên nhà nước nên có lương vì vậy khi còn sống không ai phải chu cấp cho bố mẹ ông.

Ngày 06 tháng 4 năm 2004, cụ M chết, khi chết cụ M không để lại di chúc. Sau khi cụ M chết, bà Chu Thị A (vợ của ông Trần Văn L1) là người ở trên thửa đất của cụ P và cụ M từ đó cho đến nay.

Khoảng tháng 6 năm 2018, ông về dự định xây nhà thờ để làm nơi hương khói và sinh hoạt chung của anh em mỗi dịp cúng giỗ tổ tiên. Khi ông bắt đầu làm móng nhà đưa máy xúc đến thì bà A ra ngăn cản, chửi bới, nói là đất này là của bà A, hiện bà A đang đứng tên là người sử dụng đất. Lúc đó, ông mới biết bà A đã làm thủ tục phân chia di sản thừa kế để đứng tên đất của bố mẹ ông và đã được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số AB87700, số vào sổ 400914, cấp ngày 03/7/2007 mang tên bà Chu Thị A (U). Sau khi phát hiện ra việc làm sai trái của bà A thì ông tìm hiểu hồ sơ cấp đất thấy rằng biên bản họp gia đình thiếu sự trung thực vì ông không hề ký cũng không biết về nội dung trong biên bản và không có cuộc họp gia đình nào về việc chia thừa kế đất nhà của cụ P, cụ M để lại; Đơn xin thừa kế của bà Chu Thị A viết ngày 31/5/2006 nhưng Trưởng khu xác nhận ngày 28/5/2006 và UBND xã T ký đóng dấu ngày 29/5/2006, việc ký xác nhận trước 3 ngày là trái pháp luật; trong biên bản thỏa thuận hòa giải tại UBND xã ngày 20/9/2018 một lần nữa khẳng định đơn nhận thừa kế của bà A đề ngày 31/5/2006 đã được bà A ký tên và xác nhận là đúng. Hơn nữa bà A cũng thừa nhận là nhờ người khác ký thay tên ông L. Đồng thời, ngày 01/10/2006 cháu Trần Thị O đã có bản kê khai nhận thừa kế tại UBND xã là trái pháp luật do cháu Hiền là hàng thừa kế thứ hai, không có văn bản nào thể hiện về việc cho cháu Hiền nhận thừa kế lô đất trên cho nên UBND xã T ký xác nhận là trái quy định pháp luật.

Ông là một trong những người thuộc hàng thừa kế di sản của cụ M, cụ P nhưng lại không hề biết sự việc phân chia này, do vậy ông khởi kiện đề nghị Tòa án:

  1. Phân chia di sản thừa kế của cụ M, cụ P để lại theo pháp luật đối với thửa đất số 15 tờ bản đồ 11T diện tích 456m2 (đất ở 300m2, đất vườn (CLN) 156m2) tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và 03 gian nhà cấp IV gắn liền với đất. Theo đó mỗi người thuộc hàng thừa kế được hưởng tỷ lệ ¼, diện tích tương ứng khoảng 114m2/người, tổng quyền sử dụng đất và tài sản tạm tính là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng)
  2. Hủy Quyết định số 862/QĐ-UBND ngày 02/7/2007 của UBND huyện B về việc nhận thừa kế và cấp GCNQSDĐ cho bà Chu Thị A (U) và hủy GCNQSDĐ số AB87700, số vào sổ 400914 do UBND huyện B cấp ngày 03/7/2007 mang tên Chu Thị A.

...

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 26, 34, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng Hành chính; các điều 609, 612, 613, 623, 649, 651, 652, 660 và Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh L:

  1. Chia cho ông Trần Thanh L được quyền sử dụng diện tích đất 106m2 (trong đó có 70m2 đất ở và 36m2 đất vườn), trên đất có một phần móng nhà ông L xây dựng; 01 giếng nước; 01 công trình phụ, nhà tắm cùng bồn nước Tân Mỹ, 01 lán phơi (do bà Chu Thị A tạo lập) thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ số 11T tại thôn Hiệp Thuận, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc...
  2. Công nhận việc tự nguyện của chị Trần Thị O cho bà Chu Thị A toàn bộ phần thừa kế được hưởng.
  3. Chia cho bà Chu Thị A được quyền sử dụng diện tích đất 350m2 (trong đó có 230m2 đất ở và 120m2 đất vườn), trên đất có 01 nhà cấp bốn ba gian là di sản của cụ M để lại, cùng các tài sản và vật kiến trúc do bà A xây dựng thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ số 11T tại thôn Hiệp Thuận, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc...
  4. Buộc ông Trần Thanh L phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà Chu Thị A là 601.000đ (Sáu trăm linh một nghìn đồng).
  5. Huỷ Quyết định số 862/QĐ-UBND ngày 03 tháng 7 năm 2007 của UBND huyện B về việc nhận thừa kế và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Chu Thị A ( U) và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB87700, số vào sổ 400914 do Uỷ ban nhân dân huyện B cấp ngày 03/7/2007 đứng tên người sử dụng Chu Thị A.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)


Nguyễn Thị Thu Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2021/DS-ST ngày 05/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp chia di sản thừa kế; huỷ quyết định về việc nhận thừa kế, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 10/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế; huỷ Quyết định về việc nhận thừa kế, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger