|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 10/2021/DS-PT |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Toàn Nghĩa.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh, bà Lương Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2021/HNGD-PT ngày 15/4/2021 về tranh chấp hôn nhân gia đình.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/HNGĐ-ST ngày 12/01/2021 của Toà án nhân dân huyện T bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 46/2021/DS-PT ngày 14/6/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lã Thị M, sinh năm 1961
- Bị đơn: Ông Đoàn Xuân D, sinh năm 1958
Đều trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
Anh Đoàn Văn D1, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, Thái Bình. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lã Xuân B, sinh năm 1967 và vợ là bà Đỗ Thị L, sinh năm 1970
Đều trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Đoàn Xuân D2, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu 12, đường V, L, huyện L, Đồng Nai.
- Chị Đoàn Thị A, sinh năm 1984
Địa chỉ: SN 19, khu A, tổ 6, phường H, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Anh D2 và chị A ủy quyền cho anh Đoàn Văn D1 tham gia tố tụng. - Người kháng cáo: Bà Lã Thị M, ông Đoàn Xuân D, anh Đoàn Văn D1, anh Đoàn Xuân D2, chị Đoàn Thị A.
(Bà M, ông D, ông B, bà L, anh D1 có mặt. Anh D2, chị A vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn là bà Lã Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đoàn Xuân D kết hôn năm 1982 có đăng ký tại UBND xã T. Chung sống đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không thống nhất trong việc cho em trai bà là ông Lã Xuân B sử dụng đất nông nghiệp. Ông D nhiều lần đánh đập, chửi bới bà, đốt quần áo không cho bà ở cùng nên bà phải đến nhà ông B ở nhờ. Bà xác định mâu thuẫn giữa bà và ông D không hòa giải được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông D.
Về con chung: Bà và ông D có ba con chung là Đoàn Xuân D2, sinh năm 1983, Đoàn Thị A, sinh năm 1984 và Đoàn Văn D1, sinh năm 1991. Cả ba con đều đã trưởng thành và tự lập nên bà không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng.
Về tài sản chung:
- Về nhà đất: Bà và ông D có 1 nhà ở diện tích 40 m2 xây dựng năm 1990 và công trình phụ xây năm 2014, hiện nay đã xuống cấp, 38,8 m2 nhà lợp tôn, xây dựng trên 194,6 m2 đất thửa số 574, tờ bản đồ số 5 tại thôn Đ, xã D. Các đồ dùng gồm ti vi, tủ lạnh, bàn ghế, tủ gỗ, máy giặt, bình năng lượng. Bà và ông D không nợ ai, không có tài sản cho ai vay.
Toàn bộ khối tài sản nêu trên là do bà và ông D tạo lập. Anh D1 có đóng góp 40.000.000 đồng khi xây nhà mái tôn, các con khác không đóng góp gì. Bà không chuyển nhượng, tặng cho ai quyền sử dụng đất. Bà yêu cầu chia cho bà sử dụng phần đất có nhà mái tôn. Phần còn lại ông D sử dụng, các đồ dùng ông D sở hữu gì còn lại bà xin nhận. Ông D thanh toán nếu chênh lệch tài sản và thanh toán cho anh D1 phần đóng góp bằng tiền.
- Về đất ruộng: Ruộng tiêu chuẩn có 5 suất gồm 2 vợ chồng và 3 con, mỗi xuất được 511,8 m2.
Anh D2, chị A, anh D1 đều đi công tác, không trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp. Bà đề nghị Tòa án chia toàn bộ đất nông nghiệp cho bà và ông D sử dụng.
Năm 2009, bà và ông D đã đồng ý cho vợ chồng em trai bà là ông Lã Xuân B, bà Đỗ Thị L thuê thửa đất số 5 đồng Tam Hợp, khi thuê không lập thành văn bản, giá thuê là 300kg thóc/1 năm. Ông B đã trả tiền thuê hết năm 2019. Năm 2009, ông B và bà lập dự án chăn nuôi nhím đã được UBND xã xét duyệt trình với UBND cấp huyện về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, dự án chưa được xét duyệt, ông B đã san lấp hơn 1000m2 phía tây thửa đất này sau đó xây nhà mái bằng và các công trình để chăn nuôi. Hiện nay trên thửa đất này còn nhiều tài sản của ông B, bà L nên bà đề nghị được phân chia thửa đất này để bà và ông B tự giải quyết.
- Về nợ: Việc ông D yêu cầu ông B, bà L trả tiền 75.040.000 đồng để phân chia, bà bác bỏ. Ông B, bà L có một vài lần vay tiền của bà nhưng đều đã trả hết.
...
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TA, THA huyện T; - UBND xã D h Thái Thụy; - Các đương sự; - Lưu HC-TP và hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Toàn Nghĩa |
Bản án số 10/2021/DS-PT ngày 13/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 10/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lã Thị M xin ly hôn ông Đoàn Xuân D, chia tài sản chung vợ chồng
