Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 10/2021/DS - PT

Ngày 03 - 6 - 2021

V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Khoa, Ông Trương Quyết Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 03/6/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2021/TLPT-DS ngày 02/3/2021 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất" do bản án dân sự số 01/2021/DS-ST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐ-PT ngày 16/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2021/QĐ-PT ngày 06/5/2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T. Địa chỉ: Tổ 02, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
    Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Chị Giàng Thị P - Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Anh Vàng A C và Chị Hầu Thị X. Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Chị Vàng Thị X - Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt tại phiên tòa.
    • - Anh Vàng A M - Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
  4. Người phiên dịch: Bà Giàng Thị P - Địa chỉ: Số 007, phố T, tổ 22, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
  5. Người kháng cáo: Bị đơn anh Vàng A C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Bùi Thị T và người đại diện theo ủy quyền chị Giàng Thị P trình bày:

Chị Bùi Thị T và anh Nông Thái S kết hôn với nhau năm 2001. Năm 2004 anh S công tác tại Đồn biên phòng Y, được phân công phụ trách ở Thôn H. Trong thời gian đó nhà nước khuyến khích vợ con cán bộ lên trên Y để khai hoang ruộng đất, làm ăn sinh sống và được hỗ trợ 15.000.000đồng làm nhà. Vợ chồng chị T, anh S chuyển lên Y ở và làm nhà cạnh nhà ông Tráng A S nhưng do gió to lên không ở được nên năm 2005 anh chị chuyển nhà đến thửa đất có diện tích khoảng 1,8ha. Vị trí như sau: Phía Đông và Đông Nam giáp với đường đi và khe nước; Phía Tây giáp với khe nước; Phía Nam giáp với dãy đá cao; Phía Bắc giáp với đất của ông Tráng A G.

Chị T đã canh tác trên thửa đất đó liên tục, năm 2009 anh S có trồng một số cây Sa Mộc, cây thông lên thửa đất. Năm 2011 anh S chuyển về đồn Biên phòng B công tác, chị T vẫn ở ngôi nhà và sử dụng thửa đất trên. Trong quá trình sinh sống giữa anh S và chị T phát sinh mâu thuẫn đến tháng 10/2019 thì ly hôn, khi ly hôn anh S và chị T thỏa thuận thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của chị T. Năm 2017 chị T đã chuyển nhượng thửa đất cho chị Giàng Thị P.

Đến năm 2019, anh Vàng A C và chị Hầu Thị X đến nhận đất của mình và trồng ngô nên phát sinh tranh chấp. Ngày 06/9/2019 Ủy ban nhân dân xã đã hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh C và chị X trả lại diện tích đất khoảng 9000m2. Trong quá trình giải quyết, chị T thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh C, chị X cùng các con Vàng A M và Vàng Thị X trả lại diện tích đất theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án là 13.911,7m2.

Bị đơn anh Vàng A C và chị Hầu Thị X trình bày:

Diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc do ông Vàng A P (bố đẻ anh C) khai phá vào năm 1979, trong quá trình sử dụng có đào hào xung quanh để làm ranh giới, chủ yếu để trồng thảo quả. Sau khi anh C lấy vợ là chị Hầu Thị X năm 1993 thì hai vợ chồng canh tác trên thửa đất đó, phía dưới trồng thảo quả, phía trên đỉnh đồi không trồng gì. Năm 2001 thì có ông Nông Thái S (chồng của chị T) là cán bộ địa bàn phụ trách Thôn H, xã Y không có chỗ ở nên đã xin ông Vàng A P một ít đất để làm nhà ở, anh S đã làm nhà, nhưng vì ở trên cao có gió to không ở được. Anh S lại xin ông P thửa đất thấp hơn để làm nhà và đưa vợ là chị Bùi Thị T đến ở. Năm 2009 nhà nước phát cây sa mộc, cây thông cho nhân dân trồng, lúc đó anh C trồng trên đỉnh đồi cách ngôi nhà anh S ở khoảng 20m. Lúc này anh S không được phát cây trồng, anh S xin được 4 túi cây cây giống trồng xung quanh nhà để chống gió nhưng không trồng xung quanh nhà mà lại trồng lấn chiếm vào khu đất của anh C. Vợ chồng anh C đã ngăn cản nhưng không được nên hai bên xảy ra tranh chấp. Năm 2018 anh S và chị T bán đất cho chị Giàng Thị P. Anh C đã có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã Y giải quyết nhưng không thành.

Hiện tại anh C và chị X cùng các con đang sử dụng 13.911,7m2 đất đồi trong tổng diện tích đất 20.224,9m2 như biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án. Nay chị T yêu cầu anh C, chị X trả lại 13.911,7m2 anh chị không đồng ý. Đối với diện tích chị T đang sử dụng là 6.313,1m2 đất đó là của chị T, anh, chị không yêu cầu chị T trả lại. Đối với ngôi nhà trên đất trong trường hợp anh, chị được sử dụng diện tích đất hiện tại thì anh, chị yêu cầu chị T phải tháo dỡ, di chuyển nhà đi nơi khác trả lại đất cho anh chị.

Ngày 05/10/2020 anh Vàng A C và chị Hầu Thị X có đơn phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu tuyên vô hiệu Giấy chuyển nhượng đất giữa chị Bùi Thị T và chị Giàng Thị P ngày 01/6/2017. Ngày 18/11/2020 anh C, chị X đã có đơn rút yêu cầu phản tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của anh Vàng A C có đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật, nộp trong hạn luật định là hợp lệ, làm căn cứ để Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn anh Vàng A C: Tòa án sơ thẩm đã thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để nhận định, đánh giá một cách khách quan toàn diện, xác định chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp và quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Vàng A C không cung cấp được chứng cứ chứng minh nội dung kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Vàng A C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm 01/2021/DS-ST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Vàng A C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số AC/2012/0002017 ngày 22/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Lào Cai (2);

- TAND huyện B;

- Chi cục THADS huyện B;

- Các đương sự;

- Lưu VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Phi Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2021/DS - PT ngày 03/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 10/2021/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Vàng A C và chị Hầu Thị X trả lại diện tích đất theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án là 13.911,7m2.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger