|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 10/2021/DS-PT Ngày: 18-3-2021 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như
- Các Thẩm phán:
- Ông Ngôn Ngọc Viên
- Ông Dương Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2020/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nông Tiến T, sinh năm 1959
Địa chỉ: Tổ 5, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; có mặt
Bị đơn:
- Lý Thị D, sinh năm 1921; có mặt
- Lưu Thị Ch, sinh năm 1949; có mặt
Cùng địa chỉ: Tổ 6, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Lý Thị D: Ông Triệu Bằng G - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng; có mặt
Người làm chứng:
- Ông Nông Văn Ng – sinh năm 1962. Vắng mặt
- Ông Nông Văn Đ - sinh năm 1965. Có mặt
- Bà Lương Thị N – sinh năm 1950. Có mặt
Cùng địa chỉ: Tổ 5, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
- Bà Nông Thị H – Sinh năm 1957
- Ông Trần X C1 – sinh năm 1953
Cùng địa chỉ: Tổ 7, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Cả hai đều có mặt tại phiên tòa
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nông Tiến T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/5/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nông Tiến T trình bày:
Nguồn gốc 06 thửa đất gồm: Thửa 104 diện tích 508,7m2, thửa 105 diện tích 324,8m2, thửa 107 diện tích 547,9m2, thửa 108 diện tích 121m2 (do bà Lưu Thị Ch đang canh tác, sử dụng) tại tờ bản đồ số 113 đo vẽ năm 2013 là của gia đình tôi do ông bà nội tôi là ông Nông ích L4 và Nông Thị Th4 khai phá sử dụng từ năm 1920. Sau khi ông bà nội chết thì có để lại đất cho các con cháu quản lý, sử dụng. Tôi được sử dụng các thửa đất trên từ khi còn nhỏ cho đến năm 1977 tôi đi bộ đội và có giao lại đất cho hai em con dì là Nông Văn Ng và Nông Văn Đ, con nuôi của mẹ tôi là Lương Thị N, chị gái tôi Nông Thị H và anh rể Trần X C1, việc tôi giao đất cho những người trên canh tác không có giấy tờ gì. Đến năm 1997-1998 vì trường cấp một P xây dựng, đường đi lại khó khăn nên các chị em không làm nữa, cũng khoảng năm 1997-1998 bà Lưu Thị Ch và bà Lý Thị D đến tranh chấp đất tôi cũng đã nhắc nhở hai bà trả lại đất cho tôi canh tác nhưng hai bà không trả, nay tôi có đơn khởi kiện yêu cầu bà Ch bà D phải giải phóng mặt bằng cây cối hoa màu có trên đất để trả lại các thửa đất ở trên cho tôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Nông Tiến T nộp đơn khởi kiện bà Lưu Thị Ch và bà Lý Thị D tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu giải phóng mặt bằng trên đất. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp quyền sử dụng đất” là có căn cứ và đúng pháp luật theo quy định tại khoản 9 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tài sản tranh chấp là đất tại thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, nguyên đơn Nông Tiến T, bị đơn Lưu Thị Ch, Lý Thị D sống cùng địa chỉ: thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, do đó Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý giải quyết là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 điều 39 bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; điều 148 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 3 điều 100; Điều 202, 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bác kháng cáo của ông Nông Tiến T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn Nông Tiến T về việc: Yêu cầu bị đơn Lưu Thị Ch phải giải phóng mặt bằng cây cối, nhà có trên đất để trả lại cho ông các thửa đất: thửa số 104 diện tích 508,7m2; Thửa 105 diện tích 324,8m2; Thửa 107 diện tích 547,9m2; Thửa 108 diện tích 121,6m2 thuộc tờ bản đồ 113, đo vẽ năm 2013; yêu cầu bà Lý Thị D phải giải phóng mặt bằng cây cối, mộ trên đất để trả lại cho ông các thửa đất: Thửa đất 92 có diện tích 744,8m2; Thửa 101 có diện tích 50,2m2 thuộc tờ bản đồ 113, đo vẽ năm 2013. Các thửa đất trên cùng địa chỉ: Khu Ch Lán - B5 thuộc tổ 6, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Bà Lưu Thị Ch được quyền tiếp tục quản lý sử dụng đối với các thửa đất: thửa số 104 diện tích 508,7m2; Thửa 105 diện tích 324,8m2; Thửa 107 diện tích 547,9m2; Thửa 108 diện tích 121,6m2 thuộc tờ bản đồ 113, đo vẽ năm 2013, cùng địa chỉ: Khu Ch Lán – B5 thuộc tổ 6, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Bà Lý Thị D được quyền tiếp tục quản lý sử dụng đối với các thửa đất: Thửa đất 92 có diện tích 744,8m2; Thửa 101 có diện tích 50,2m2 thuộc tờ bản đồ 113, đo vẽ năm 2013, cùng địa chỉ: Khu Ch Lán - B5 thuộc tổ 6, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn Nông Tiến T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.000.000đ (xác nhận ông T đã nộp đủ 1.000.000đ).
3. Về án phí: Ông Nông Tiến T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm sung công quỹ nhà nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng AA/2016/0000982 ngày 05/11/2020 tại Chi cục Thi hành án huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - TAND huyện Q; - Chi cục THADS huyện QH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như |
Bản án số 10/2021/DS-PT ngày 18/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 10/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguồn gốc 06 thửa đất gồm: Thửa 104 diện tích 508,7m2, thửa 105 diện tích 324,8m2, thửa 107 diện tích 547,9m2 , thửa 108 diện tích 121m2 (do bà Lưu Thị Ch đang canh tác, sử dụng) tại tờ bản Đ số 113 đo vẽ năm 2013 là của gia đình tôi do ông bà nội tôi là ông Nông ích L4 và Nông Thị Th4 khai phá sử dụng từ năm 1920. Sau khi ông bà nội chết thì có để lại đất cho các con cháu quản lý, sử dụng. Tôi được sử dụng các thửa đất trên từ khi còn nhỏ cho đến năm 1977 tôi đi bộ đội và có giao lại đất cho hai em con dì là Nông Văn Ng và Nông Văn Đ, con nuôi của mẹ tôi là Lương Thị N, chị gái tôi Nông Thị H và anh rể Trần X C1, việc tôi giao đất cho những người trên canh tác không có giấy tờ gì. Đến năm 1997-1998 vì trường cấp một P xây dựng, Đ0 đi lại khó khăn nên các chị em không làm nữa, cũng khoảng năm 1997-1998 bà Lưu Thị Ch và bà Lý Thị D đến tranh chấp đất tôi cũng đã nhắc nhở hai bà trả lại đất cho tôi canh tác nhưng hai bà không trả, nay tôi có đơn khởi kiện yêu cầu bà Ch bà D phải giải phóng mặt bằng cây cối hoa màu có trên đất để trả lại các thửa đất ở trên cho tôi.
