|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2020/DS-ST Ngày: 20-01-2022. V/v tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Hoàng
- Bà Bùi Thúy Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 638/2020/DSST ngày 06 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6200/2021/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6641/2021/QĐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: 266-268 đường N, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970 (Giấy ủy quyền số 844/2020/UQ-TTT ngày 16/10/2020)
Địa chỉ liên lạc: Lầu 8, 266-268 đường N, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Kiều Đăng K, sinh năm 1972.
Địa chỉ: 60 T, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Lã Ngọc M có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ông Lã Ngọc M là đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa:
Ngày 24/9/2008, Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Kiều Đăng K đã ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của bà K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 472075-4627, loại thẻ tín dụng quốc tế Visa với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất vay 1.75%/tháng; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 989.861.008 đồng, phí trễ hạn là 11.734.008 đồng, lãi 381.271.480 đồng, phí vượt hạn mức 767.137 đồng, phí 2.977.000 đồng. Tổng cộng là 1.386.610.633 đồng, bà K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 1.002.124.342 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà K không có thiện chí trả nợ. Do bà K vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 01/1/2016 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ đến ngày 01/01/2016 thành nợ gốc là 113.823.759 đồng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Kể từ ngày 01/01/2016, bà K chỉ phải chịu khoản tiền lãi quá hạn mà không bị tính thêm các loại phí nào khác.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Kiều Đăng K thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn lại tạm tính đến ngày 20/01/2022 là 384.486.291 đồng (bao gồm nợ gốc là 113.823.759 đồng và nợ lãi là 270.662.523 đồng). Bà K có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21 tháng 01 năm 2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình bà K có trách nhiệm thanh toán tiền sử dụng thẻ còn nợ, ngoài ra không yêu cầu ai cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Bị đơn - bà Nguyễn Kiều Đăng K: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật: Tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nguyễn Kiều Đăng K. Tuy nhiên, tại tất cả các buổi làm việc theo giấy triệu tập bà K vắng mặt không lý do, không cung cấp văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát... được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì về tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của các bên và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Kiều Đăng K thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn lại tạm tính đến ngày 20/01/2022 là 384.486.291 đồng (bao gồm nợ gốc là 113.823.759 đồng và nợ lãi là 270.662.523 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 20/01/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về pháp luật tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bị đơn bà Nguyễn Kiều Đăng K giao kết hợp đồng tín dụng ngày 24/9/2008. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ còn thiếu theo thỏa thuận của các bên. Căn cứ kết quả xác minh ngày 22/4/2021 của Công an phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn bà K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 50 Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế không cư trú tại địa chỉ trên, bà K đã xuất cảnh đi Mỹ từ năm 2016 đến nay. Căn cứ văn bản số 1593/QLXNC-P5 ngày 24/5/2021 của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an cho biết: Nguyễn Kiều Đăng K, nữ sinh ngày 01/11/1972, thường trú tại 60 T, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đương sự đã xuất nhập cảnh 08 lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 26/9/2015, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Đồng thời, nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn. Do đó có cơ sở xác định địa chỉ số 60 T, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là địa chỉ bà K đã từng cư trú mà nguyên đơn biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện. Căn cứ khoản 3 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn được ghi trong hợp đồng. Do đó, địa chỉ số 60 T, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về tư cách đương sự:
Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S ủy quyền cho ông Lã Ngọc M tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; ông Minh đã có đơn đề ngày 24/11/2021 xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn là bà Nguyễn Kiều Đăng K mặc dù Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo sự khách quan, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn nhưng bị đơn đã không đến Tòa tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày, ý kiến, yêu cầu của mình đối với ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không lý do. Do vậy Hội đồng tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Về chứng cứ:
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp các chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện gồm: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ký kết giữa bà Nguyễn Kiều Đăng K và Ngân hàng; Tóm tắt sao kê của bà Nguyễn Kiều Đăng K... Đây là các tài liệu bản sao từ các tài liệu đang lưu giữ trong hồ sơ tại trụ sở của nguyên đơn. Đại diện nguyên đơn cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của các tài liệu này. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, trong đó có Thông báo thụ lý vụ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Do vậy, những tài liệu, chứng cứ này có giá trị chứng minh về quyền, nghĩa vụ của các đương sự.
[2]. Về pháp luật nội dung:
2.1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng, có chữ ký xác nhận của bà Nguyễn Kiều Đăng K và đại diện Ngân hàng có cơ sở xác định ngày 24/9/2008 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp thẻ tín dụng cho bà K với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết hợp đồng tín dụng ngày 24/9/2008 giữa Ngân hàng và bà K là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ Bảng tóm tắt sao kê các giao dịch đã thực hiện qua thẻ tín dụng và Bảng chi tiết giao dịch của khách hàng thể hiện sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà K đã thực hiện các giao dịch tạm tính đến ngày 20/01/2022 với số tiền là 989.861.008 đồng, phí trễ hạn là 11.734.008 đồng, lãi 381.271.480 đồng, phí vượt hạn mức 767.137 đồng, phí 2.977.000 đồng, tổng cộng là 1.386.610.633 đồng. Bà K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.002.124.342 đồng. Thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng theo lần lượt: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Do bà K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/01/2016, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà K và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 113.823.759 đồng sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn có văn bản trình bày ý kiến và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc đã thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên dựa theo bảng sao kê lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp, không có chứng cứ nào cho thấy bà K đã thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Kiều Đăng K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại là 113.823.759 đồng.
2.2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi:
Căn cứ Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế Sacombank thì tại thời điểm các bên ký hợp đồng mức lãi suất được thỏa thuận đối với tất cả thẻ tín dụng quốc tế Sacombank phát hành cho khách hàng là 2.15%/tháng. Tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng tại thời điểm hiện tại, tương đương 3.225%/tháng (2.15% x 150%). Do bà K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/01/2016, Ngân hàng chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 113.823.759 đồng sang nợ quá hạn theo mức lãi suất 3.225%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ tạm tính đến ngày 20/01/2022 là 270.662.523 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Trong vụ án này, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu bà K có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với bà K thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà K đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu cá nhân nên không buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của bà K.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Kiều Đăng K thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tạm tính đến 20 tháng 01 năm 2022 là 384.486.291 đồng (bao gồm nợ gốc là 113.823.759 đồng và nợ lãi là 270.662.532 đồng) và bà K có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết kể từ ngày 21 tháng 01 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, do bà Hương vi phạm thời hạn trả nợ như thỏa thuận đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà Hương phải thanh toán hết một lần số tiền còn nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Bị đơn bà Nguyễn Kiều Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.224.315 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[4]. Quyền kháng cáo:
Các bên đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Điều 290 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP S:
Buộc bà Nguyễn Kiều Đăng K phải thanh toán Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/9/2008 tạm tính đến ngày 20/01/2022 là 384.486.291 đồng (bao gồm nợ gốc là 113.823.759 đồng và nợ lãi là 270.662.532 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 21/01/2022 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Kiều Đăng K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Bà Nguyễn Kiều Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.224.315 đồng.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.746.152 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0030018 ngày 06/11/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Kiều Đăng K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Hạnh |
7
Bản án số 10/2020/DS-ST ngày 20/01/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 10/2020/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Kieu Dang K
