Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH HÓA

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 04 - 01-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồmcó:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiện Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Tâm – Nguyên Phó Chủ tịch UBND thị Trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, (đã nghỉ hưu);
  2. Bà Tô Thị Ninh – Phó Trưởng phòng, Phòng giáo dục và đào tạo huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đại Nghĩa- Kiểm sátviên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Anh Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/4/2006 tại huyện PL, tỉnh TN;
  2. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm ĐN, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN;nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh H và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    Ngày 23/7/2023 Lê Anh Q bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Phổ Yên, khởi tố, bắt tạm giam về tội Cướp giật tài sản. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên trong vụ án khác, (có mặt).

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Anh Q: Ông Lê Minh H, sinh năm 1984, (là bố bị cáo Q) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1986, (là mẹ bị cáo Q). Đều ở địa chỉ: Xóm ĐN, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, (đều có mặt).

    - Người bào chữa cho bị cáo Lê Anh Q: Bà Nguyễn Thị D - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

    - Đại diện Ủy ban nhân dân xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN nơi bị cáo Q cư trú: Ông Trần Minh D – Phó Chủ tịch UBND xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, (vắng mặt).

  3. Họ và tên: Lê Ngọc Q1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/9/2006 tại huyện PL, tỉnh TN;
  4. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm C1, xã PN, huyện PL, tỉnh TN;nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc C và bà Bùi Thị Th; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;bị cáobị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương, (có mặt).

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Ngọc Q1:Anh Lê Ngọc C, sinh năm 1973, (là bố bị cáo Q1) và bà Bùi Thị Th, sinh năm 1977, (là mẹ bị cáo Q1). Đều ở địa chỉ: Xóm C1, xã PN, huyện PL, tỉnh TN, (bà Thiện có mặt, ông Cương vắng mặt).

    - Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc Q1: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

    - Đại diện trường Trung học phổ thông huyện PL, tỉnh TN nơi bị cáo Q1 đang học: Bà Lưu Thị L – Giáo viên, (có mặt).

  5. Họ và tên: Nguyễn Q T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/3/2006 tại huyện PL, tỉnh TN;
  6. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm TN1, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN;nghề nghiệp: (Khi thực hiện hành vi phạm tội là Học sinh, đến nay đã nghỉ học); trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Sán Chay; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q T và bà Lương Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án: Không;

    Tiền sự: 01. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 497/QĐ-XPHC ngày 01/12/2022Công an huyện Phú Lương xử phạt Nguyễn Q T1 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, đã chấp hành xong hình phạt ngày 03/3/2023.

    Bị cáobị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương, (có mặt).

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Q T1: Chị Lương Thị B, sinh năm 1984, (mẹ bị cáo T1). Địa chỉ: Xóm TN1, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, (có mặt).

    - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Q T1: Bà Mạc Thị H1 – Luật sư – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

    * Đại diện Ủy ban nhân dân xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN nơi bị cáo T1 cư trú: Ông Trần Minh D – Phó Chủ tịch UBND xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, (vắng mặt).

  7. Họ và tên: Vũ Hoa V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/8/2005 tại huyện PL, tỉnh TN;
  8. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Thọ Lâm, thị trấn Đu, huyện PL, tỉnh TN;nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Tr và bà Dương Thị M;vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;bị cáobị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương, (có mặt).

    - Đại diện trường Trung học phổ thông huyện PL, tỉnh TN nơi Bị cáo V học tập khi thực hiện hành vi phạm tội: Bà Lưu Thị L – Giáo viên, (có mặt).

  9. Họ và tên: Trần Minh D2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30/9/2006 tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên;
  10. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm TT, xã YT, huyện PL, tỉnh TN;nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 (đã chết) và bà Trần Thị X; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáobị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương, (có mặt).

    - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Minh D2: Anh Hoàng Văn R, sinh năm 1977, (là bác Bị cáo D2). Địa chỉ: Xóm TT, xã YT, huyện PL, tỉnh TN, (có mặt).

    - Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh D2: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

    - Đại diện trường Trung học phổ thông huyện PL, tỉnh TN nơi Bị cáo D2 đang học: BàLưu Thị L – Giáo viên, (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Lương Thị P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn CC, huyện ĐH, tỉnh TN, (vắng mặt).
  2. Cháu Hoàng Khánh H2, sinh ngày 08/9/2006 và người đại diện hợp pháp: Anh Hoàng Minh V2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Xóm HB2, xã QK, huyện ĐH, tỉnh TN, (đều vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Cháu Hoàng Mạnh H3, sinh ngày 30/9/2007 và người đại diện hợp pháp của chị Bùi Thị T3, sinh năm 1981.Đều ở địa chỉ: Xóm Làng Ngòi, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, ( chị Thơm vắng mặt).
  2. Cháu Hoàng Thanh T4, sinh ngày 30/4/2007 và người đại diện hợp pháp là chị Lê Thị H4, sinh năm 1982. Đều ở địa chỉ: Xóm Làng Mạ, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, (đều có mặt).
  3. Cháu Nguyễn Xuân B1, sinh ngày 06/9/2007 và người đại diện hợp pháp là anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1987. Đều ở địa chỉ: Xóm Yên Thủy 4, xã YT, huyện PL, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  4. Cháu Hoàng Xuân S, sinh ngày 27/10/2008 và người đại diện hợp pháp là chị Trần Thị Đ, sinh năm 1988. Đều ở địa chỉ: Xóm Đồng Bòng, xã YT, huyện PL, tỉnh TN,(đều có mặt).
  5. Cháu Mai Ngọc K, sinh ngày 22/10/2008 và người đại diện hợp pháp là anh Mai Viết Khương, sinh năm 1971. Đều ở địa chỉ: Xóm Ao Sen, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  6. Cháu Nguyễn Công Đ, sinh ngày 09/8/2008 và người đại diện hợp pháp là chị Dương Thị H5, sinh năm 1985. Đều ở địa chỉ: Xóm Bài Kinh, xã Yên Trạch, huyện PL, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  7. Cháu Lâm Anh T5, sinh ngày 23/9/2007 và người đại diện hợp pháp là anh Lâm Đ L1, sinh năm 1983. Đều ở địa chỉ: Xóm Suối Đạo, xã PL1, huyện PL, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  8. Cháu Triệu Phúc V, sinh ngày 31/10/2008 và người đại diện hợp pháp là anh Triệu Kim K1. Đều ở địa chỉ: Xóm Suối Hang, xã Yên Ninh, huyện PL, tỉnh TN (đều vắng mặt).
  9. Cháu Nông Dương T6, sinh ngày 20/5/2006 và người đại diện hợp pháp là anh Nông Thanh T7, sinh năm 1981. Đều ở địa chỉ: Xóm TN1, xã QK, huyện Đh, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  10. Cháu Lương Anh T7, sinh ngày 06/6/2007 và người đại diện hợp pháp là anh Lương Văn P1, sinh năm 1970. Đều ở địa chỉ: Xóm Đồng Màn, xã BC, huyện Đh, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  11. Cháu Hoàng Văn Đ3, sinh ngày 03/7/2008 và người đại diện hợp pháp là anh Hoàng Văn T8. Đều ở địa chỉ: Xóm Trung Tâm, xã TĐ, huyện Đh, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  12. Cháu Hà Đ Nhật T9, sinh ngày 07/9/2006 và người đại diện hợp pháp là chị Trần Thị T10.Đều ở địa chỉ: Xóm Song Thái, xã DM, huyện Đh, tỉnh TN, (đều vắng mặt).
  13. Anh Lường Phúc H4 sinh năm 2002. Địa chỉ: Xóm Yên Hòa, xã BY, huyện Đh, tỉnh TN, (vắng mặt).
  14. Anh Lường Phú H5, sinh năm 2004. Địa chỉ: Xóm Khang Trung, xã BY, huyện Đh, tỉnh TN,( vắng mặt).
  15. Cháu Lê Huy H6, sinh ngày 26/5/2005, (vắng mặt).
  16. Chị Lê Thị Tuyết N1, sinh năm 2002, (vắng mặt).
  17. Anh Dương Quốc L2, sinh năm 1978, (vắng mặt).
  18. Chị Lê Thị V3, sinh năm 1984, (vắng mặt).
  19. Anh Vũ Văn T11, sinh năm 1985, (vắng mặt).
  20. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn CC, huyện ĐH, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 20 giờ ngày 09/4/2023, Vũ Hoa V, Lê Ngọc Q1, Trần Minh D2, Nguyễn Xuân B1, Hoàng Xuân S2, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Q T1, Hoàng Thanh T4, Mai Ngọc K, Lâm Anh T5 rủ nhau lên thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa chơi. Khi cả nhóm đi đến km 31 Quốc lộ 3C thì gặp Lê Anh Q, Nguyễn Công Đ, Triệu Phúc V. Q rủ mọi người lên cầu Suối Nản ở thị trấn Chợ Chu để chụp ảnh. Khi đi Q cầm theo 01 tuýp sắt dài khoảng 2,5m, 01 đầu gắn 01 dao nhọn (thường gọi là dao phóng lợn). Trên đường đi, D điều khiển xe mô tô chở H, T điều khiển xe mô tô chở Tùng, Sơn điều khiển xe mô tô chở Bắc, Văn điều khiển xe mô tô chở Q1, T1 điều khiển xe mô tô chở Khôi, V điều khiển xe mô tô chở Đ và Q.

Khi cả nhóm của Q đi qua trước cửa quán nhà bà Lương Thị P thì thấy có 01 nhóm thanh niên đang ngồi trong quán gồm: Hoàng Khánh H2, Nông Dương T6, Lương Anh T7, Hà Đ Nhật T12, Lường Phúc H6, Lường Phúc H9, Hoàng Văn Đ4, Lê Huy H13 và Lê Thị Tuyết N4 (là của con bà P). Khi nhóm của Q đang chụp ảnh trên cầu thì thấy: T, H, H2, T5, H5, H7, Đ đi từ trong quán bà P đến quát “Chúng mày lên đây làm loạn đất bố mày à” và “chúng mày có giao lưu võ thuật không” thì nhóm của Q lên xe mô tô rời đi, nhóm của H11, H13 cũng quay lại quán bà P ngồi.

Nhóm của Q di chuyển theo hướng xã Tân Dương, huyện Định Hoá được khoảng hơn 100m thì thấy bên lề đường có những cục bê tông nên Q nói với cả nhóm dừng lại đập nhỏ những cục bê tông này ra để quay lại ném nhóm vừa chửi mình. Cả nhóm đồng ý và cùng nhau đập những cục bê tông ra và cầm quay lại tìm nhóm thanh niên ở quán bà P. Khi quay lại được khoảng 50m thì cả nhóm thấy bên lề đường cạnh quán tạp hóa cạnh có nhiều vỏ chai bia nên Thuần nói với mọi người lấy vỏ chai bia ném nhóm người trong quán thì tất cả đồng ý và ném đá cầm theo xuống lề đường. T và Q1 xuống xe lấy mỗi người một thùng đựng vỏ bia cho lên xe, B xuống xe lấy 04 vỏ chai bia đem theo. Trên đường đi, Văn là người điều khiển xe mô tô chở Q1, D là người điều khiển xe mô tô chở H quay lại. Sau đó T và Q1 chia cho mỗi xe vài vỏ chai bia. Khi nhóm của Q đến gần cửa quán thì bà P nhìn thấy nên nói với mọi người trong quán là nhóm của Q quay lại, đồng thời đóng cửa quán lại. Cả nhóm của Q điều khiển xe đi qua trước của quán thì xác định nhóm thanh niên lúc trước vẫn còn ngồi trong quán, Q nói với cả nhóm “Quay xe”, khi đến gần trước cửa quán thì cả nhóm cùng nhau chửi “Địt mẹ chúng mày ra đây”, Lâm Anh T5 chửi lớn “Địt mẹ chúng mày ra đây, chúng mày lom dom à, nhớ mặt bố đấy”. Sau đó, T và Thuần đi xe mô tô đến đầu tiên và cùng ném vỏ chai bia vào trong quán bà P, tiếp đến là Văn điều khiển xe mô tô chở Q1 đến cửa quán, Quyết cầm vỏ chai bia ném vào trong quán, Vũ điều khiển xe mô tô chở Q và Đ đi qua và cùng ném vỏ chai bia vào phía cửa quán của bà P, lần lượt sau đó là Hiệp, Dũng, Tú, Bắc, Sơn đều cầm vỏ chai ném về phía quán của bà P, còn Khôi cầm cục đá bằng bê tông ném về phía cửa quán nhà bà P. Sau khi đi qua cửa quán đến ngã tư, Q cầm dao có chuôi bằng ống nước cùng Đ chạy quay lại phía quán. Q cầm dao chọc 01 nhát vào cánh cửa bằng tôn làm thủng 1 lỗ trên cảnh cửa bằng tôn của quán nhà bà P. Q tiếp tục đâm lần thứ 02 vào cánh cửa làm thủng tôn và sượt qua bụng của anh Hoàng Khánh H2 đang giữ cửa cùng bà P, làm xước da vùng bụng của anh H2. Bị đâm anh H2 bỏ chạy vào bên trong chỗ nhóm của mình đang đứng. Q nói to “thấy phóng không sợ à”, còn Đ dùng chân đạp vào cánh cửa tôn của nhà bà P. Sau đó Q, Đ lên xe mô tô của V chờ, thì Lâm Anh T5 nói “Quay lại đạp xe máy của nó”, Q và Đ xuống xe chạy về phía xe mô tô của anh Hà Đ Nhật T12 đang dựng cạnh cửa quán, Q dùng “dao phóng lợn” chọc 02 nhát vào phía xe mô tô, còn Đ dùng 02 tay cầm vào đuôi xe mô tô giật đổ xe xuống đất. Bắc và Sơn tiếp tục ném vỏ chai bia về phía quán của bà P. Dương tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Hiệp đi vòng quanh ngã tư và dừng xe lại để Hiệp xuống xe tiếp tục ném 01 vỏ chai bia về phía quán bà P. Sau đó cả nhóm đứng ở giữa ngã tư chửi, thách thức nhóm thanh niên trong quán bà P ra đánh nhau, nH nhóm thanh niên trong quán không ra nên nhóm của Q lên xe mô tô di chuyển theo hướng trung tâm thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá, trên đường đi các đối tượng đã ném vỏ két bia đi, còn Q đã ném dao phóng lợn ở cạnh đường ở khu vực xã Yên Trạch, huyện Phú Lương.

Sau khi nhóm của Q rời đi, nhóm thanh niên trong quán cũng ra về, còn bà P không dám tiếp tục bán hàng đêm nữa và bà P đi về nhà. Sau đó bà P đã làm đơn trình báo đến Công an thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá để giải quyết vụ việc.

Ngày 15/4/2023, đại diện tổ dân phố Hồ Sen, thị trấn Chợ Chu có đơn đề nghị và ngày 01/10/2023 UBND thị trấn Chợ Chu có công văn số 68 đề nghị xử lý nghiêm hành vi của các đối tượng gây mất trật tựan ninh, xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân về việc nhóm của Q gây hoang mang, lo sợ đối với bà P và các hộ gia đình lân cận. Ảnh hưởng đến việc xây dựng tiêu chí văn minh, đô thị.

Ngày 11/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá đã yêu cầu định giá tài sản đối với 2 tấm cửa tôn của bà P.

Kết luận định giá tài sản số 17/KL-ĐG ngày 20/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyện tố tụng hình sự - UBND huyện Định Hoá kết luận: “01 cảnh cửa làm bằng tôn, khung kim loại, dạng cửa trượt sang bên. Cửa có kích thước (4,2x2,53)m. Miếng tôn làm cửa có độ dày 0,4mm, loại tôn Hoa Sen. Trên cửa tôn có 02 vết rách thủng, bờ mép sắc gọn. Một vết rách dài 14cm, cao cách nền 0,75m, một vết rách dài 18cm, cao cách nền 0,98m. Giá trị thiệt hại đối với tài sản trên là: 425.040 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn không trăm bốn mươi đồng). Tương đương chi phí thay thế tôn là 80.000 đồng/01m²”.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 11/4/2023 của Công an huyện Định Hoá xác định các dấu vết của Hoàng Khánh H2: Tại vùng giữa bụng bên phải của Hoàng Khánh H2 có 01 vết xước da, không chảy máu, vết thương đã khô, ưng đỏ kích thước (0,5x0,1) cm.

Ngày 30/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá đã tiến hành trưng cầu giám định thương tích của Hoàng Khánh H2.

Kết luận giám định 558/KLTTCT-TTPY ngày 07/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận:

“1. Các kết quả chính: Hiện tại không còn dấu vết của thương tích

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Khánh H2 tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.

Vật chứng của vụ án: Các mảnh thuỷ tinh vỡ màu nâu, kích thước, hình dạng khác nhau được công an thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá tạm giữ ngày 11/4/2023 hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng Công an huyện chờ xử lý. Đối với con dao phóng lợn và vỏ đựng chai bia sau khi các đối tượng thực hiện hành vi đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nH không thấy.

Trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra người nhà của các bị can D, V1, Q1 đã bồi thường cho anh H số tiền 14.000.000đ, bồi thường cho bà P số tiền: 3.000.000đ. Anh H và bà P không yêu cầu gì thêm. Đối với hành vi của Q, Đ chọc vào xe mô tô, du đổ xe mô tô của anh Hà Đ Nhật T12, anh T xác định không bị thiệt hại, không yêu cầu phải bồi thường.

Với hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 79/CT- VKSĐH ngày 03/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Lê Anh Q, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Q T1, Vũ Hoa V và Trần Minh D2ra xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hìnhsự.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi hậu quả của tội phạm. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bốbịLê Anh Q, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Q T1, Vũ Hoa V và Trần Minh D2phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 58, Điều 91, 101, 38 Bộ luật hìnhsự. Xử phạt Lê Anh Q từ 24 đến 30 tháng tù; bị cáo Nguyễn Q T1 từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành bản án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91, 101, 58, 65 Bộ luật hìnhsự. Xử phạt bị cáo Vũ Hoa V, Lê Ngọc Q1, Trần Minh D2, mỗi bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Các mảnh thủy tinh vỡ màu nâu, kích thước, hình dạng khác nhau như biên bản thu giữ.

Về án phí: Các bị cáo Lê Anh Q, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Q T1, Vũ Hoa V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Minh D2.

Phần tranh luận:

Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáokhông có ý kiến tranh luận, bào chữa gì.

Bà Nguyễn Thị D là người bào chữa cho bị cáo cho bị cáo Lê Anh Q, Lê Ngọc Q1 và Trần Minh D2 phát biểu ý đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng mức thấp nhất, bị cáo Q từ 18 đến 24 tháng tù; bị cáo Q1 cho mức dưới khung hình phạt hoặc bằng khung hình phạt là từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Đề nghị HĐXX miễn án phí cho Bị cáo D2 do thuộc diện hộ nghèo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Q T1 phát biểu ý kiến đề nghị HĐXX cho bị cáo T1 mức thấp nhất như đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp các lời khai tại cơ quan điều tra, với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; phù hợp với các vật chứng thu được, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xácđịnh:

Khoảng 21 giờ 07 phút, ngày 09/4/2023, tại trước cửa quán nhà bà Lương Thị P ở khu vực ngã tư đường Hồ Chí Minh thuộc tổ dân phố Hồ Sen, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Lê Anh Q, Nguyễn Q T1, Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V, Trần Minh D2 có hành vi chửi, thách thức đánh nhau, đạp vỡ mảnh vỏ chai bia, các cục bê tông ném vào cửa quán bà P thách thức đánh nhau với nhóm thanh niên bên trong quán, rồi tiếp tục chửi bới, thách thức, rồi dùng “dao phóng lợn” dài khoảng 2,5m chọc 02 nhát vào cửa quán nhà bà P, sượt qua vùng bụng, làm sứt da vùng bụng anh H đứng bên trong cửa gây thiệt hại về tài sản của bà P là 425.040 đồng; anh H bị xước da vùng bụng, tỷ lệ thương tích 0%. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dânảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương.

Hành vi của bị cáo Lê Anh Q, Nguyễn Q T1, Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V và Trần Minh D2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Điều 318 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...b, Dùng ..hung khí hoặc có hành vi phá phách”.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, vai trò, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội,gây mất an ninh trật tự xã hội, xâm phạm trật tự công cộng,gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe của người khác, vi phạm pháp luật hình sự. Trong vụ án này các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo rủ nhau tìm kiếm và tự chuẩn bị công cụ phá phách tài sản của người khác. Bị cáo Lê Anh Q là người chủ mưu, cầm đầu thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Lê Ngọc Q1, Nguyễn Q T1, Vũ Hoa V, Trần Minh D2 là đồng phạm với bị cáo Q về hành vi gây rối với vai trò là người thực hành, vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắctương xứng đối với từng bị cáo.

[4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy:

Bị cáo Lê Anh Qcó nhân thân xấu, đang bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố về hành vi cướp giật tài sản; bị cáo Nguyễn Q T1ngày 01/12/2022bị Công an huyện Phú Lương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Bị cáo Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V và Trần Minh D2chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vì vậy các bị cáo được hưởng 01tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo sau khi gây thiệt hại về tài sản cho bà P và gây thương tích cho anh H, đã tự nguyện bồi thường cho bà P và cháu H. Vì vậy cần xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự cho bị cáo Q1, Văn, Dương. Các bị cáokhông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, và áp dụng nguyên tắc người chưa thành niên phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với bị cáo Lê Anh Q, Nguyễn Q T1 có nhân thân xấu, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung trong xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp cần được chấp nhận.

Đối với các bị cáo Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V và Trần Minh D2 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đang còn học trên ghế nhà trường. Vì vậy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung trong xã hội vẫn có thể đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục học tập. Mức hình phạt tù mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra người nhà của các Bị cáo D2, Văn, Quyết đã bồi thường cho anh H số tiền 14.000.000 đồng; bồi thường cho bà P số tiền3.000.000 đồng. Anh H và bà P không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với hành vi của Q, Đ chọc vào xe mô tô làm đổ xe mô tô của anh Hà Đ Nhật T12, anh Tân xác định không bị thiệt hại, không yêu cầu phải bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[6]. Về vật chứng: Các mảnh thủy tinh vỡ màu nâu, kích thước, hình dạng khác nhau không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí:

Các bị cáo Lê Anh Q, Nguyễn Q T1, Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định.

Bị cáo Trần Minh D2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là hộ nghèo. Vì vậy cần miễn án phí cho bị cáo.

[8]. Đối với hành vi làm hư hỏng cảnh cửa tôn của nhà bà P gây thiệt hại 425.040 đồng, giá trị tài sản bị thiệt hại dưới 2.000.000 đồng, nhân thân của các bị cáo không có tiền án, tiền sự về hành vi, tội chiếm đoạt tài sản, huỷ hoại tài sản nên không cấu thành tội phạm. Đối với hành vi gây thương tích cho anh Hoàng Khánh H2 với tỷ lệ thương tật 0% nên hành vi không cấu thành tội phạm.

Đối với các đối tượng: Hoàng Mạnh H3, Hoàng Thanh T4, Hoàng Xuân S2, Mai Ngọc K, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Xuân B1, Triệu Phúc V, Lâm Anh T5 có hành vi gây rối trật tự công cộng cùng các bị cáo Q, Quyết, Thuần, Văn, Dương nH tại thời điểm thực hiện hành vi các đối tượng trên chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự thì hành vi của Hiệp, Tùng, Sơn, Khôi, Đ, Bắc, Vũ, Tú không cấu thành tội phạm. Công an huyện Định Hoá đã quyết định xử phạt hành chính với các đối tượng trên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáoLê Anh Q, Nguyễn Q T1, Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V và Trần Minh D2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

* Về hình phạt chính:

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58, Điều 91, 101 Bộ luật hìnhsự.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Anh Q 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án.

  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, 101Bộ luật hìnhsự.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Q T1 24 (hai mươi tư) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

  5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, 91, 101, 65 Bộ luật hìnhsự.

    Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Q1 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lê Ngọc Q1 cho Ủy ban nhân dân xã PN, huyện PL, tỉnh TN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  6. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, 91, 101, 65 Bộ luật hìnhsự.
  7. Xử phạt bị cáoVũ Hoa V 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Vũ Hoa V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đu, huyện PL, tỉnh TN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  8. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, 91, 101, 65 Bộ luật hìnhsự.
  9. Xử phạt bị cáo Trần Minh D2 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Trần Minh D2 cho Ủy ban nhân dân xã YT, huyện PL, tỉnh TN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủycácmảnh thủy tinh vỡ màu nâu, kích thước, hình dạng khác nhau theo biên bản thu giữ.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09/11/2023giữa Công an huyện Định Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa)

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Anh Q, Nguyễn Q T1, Lê Ngọc Q1, Vũ Hoa V mỗi bị cáophải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Minh D2.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Định Hóa;
  • - Công an huyện Định Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Định Hóa;
  • - Các bị cáo, người đại diện, người bào chữa cho bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thiện Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma Quang Thuần cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger