Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 01/2024/HS- ST

Ngày: 08 - 01- 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tuyết Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Thương.
  2. Ông Phan Cảnh Quyện.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Cảnh Sách- Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Viết Hải và ông Đặng Văn M - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Điền (Số A N, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hữu H (tên gọi khác: H què); giới tính: Nam; sinh ngày 01/02/1977 tại H, Quảng Trị. Nơi cư trú: 1 N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; con ông Lê Hữu L (đã chết) con bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1941. Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ năm. Chưa có vợ con. Tiền sự: không; tiền án: 03 tiền án.

Quá trình nhân thân: Sinh ra và lớn lên ở cùng với cha mẹ, học đến lớp 03 thì nghỉ học. Ngày 23/8/1991 bị Ủy ban nhân dân thành phố H quyết định đưa vào trường G, cơ sở giáo dục với thời hạn 03 năm do có hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 519). Ngày 26/4/1995 bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 27/HSST). Ngày 06/11/1995 bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 90/HSST). Năm 1996 bị Công an thành phố H phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 17/12/1997 bị UBND tỉnh T quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 02 năm do có hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 3064). Ngày 31/12/2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 19/HSPT). Ngày 20/9/2004 bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 102/HSST). Ngày 08/11/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 48/HSPT). Ngày 05/02/2009 bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản (Bản án số 17/2009/HSST). Ngày 30/3/2015 bị Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 96/2015/HSPT). Ngày 19/9/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 42/2019/HS-ST). Ngày 24/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 12/2019/HS-ST).

Quyết định tổng hợp hình phạt số 03/2019/QĐ-CA ngày 21/11/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, tổng hợp hình phạt của hai bản án số 12/2019/HS-ST và số 42/2019/HS-ST, buộc bị cáo Lê Hữu H phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Đến ngày 15/6/2022 bị cáo H chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1985 và ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1985. Cùng cư trú tại: Kiệt B đường T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. ( Bà B có mặt, ông Đ vắng mặt).

- Người làm chứng:

Anh Bùi Ngọc T, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Kiệt B đường T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt)

Ông Bùi B1, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Kiệt B đường T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt)

Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1971. Nơi cư trú: 48 Trần Hữu K, TDP T, thị trấn S. huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với ý định trộm cắp tài sản của người khác nên khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07/8/2023, Lê Hữu H một mình mang theo những công cụ để gây án, gồm: 02 cái kéo đã được cắt mài, chỉnh sửa lại phần lưỡi kéo; 02 tuốc nơ vít; 01 cái kềm cắt tay; 01 đèn pin; 01 súng bắn điện bằng nhựa; 01 đôi găng tay; 01 đôi tất; 01 ống keo 502 và 01 khẩu trang. Tất cả các công cụ trên H cất giấu trong túi xách màu đen (dạng túi đeo trước bụng). Sau đó, Lê Hữu H đi xe khách từ thôn H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (trước đó mấy ngày H ra quê ở lại) đến km 17, thuộc phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, H xuống xe. Lúc này, khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H đón xe taxi ( loại xe 04 chỗ, màu trắng, không rõ biển kiểm soát và hãng xe) về thị trấn S, huyện Q, khi đến trước Nghĩa trang Liệt sỹ thị trấn S rồi xuống xe và đi vào Nghĩa trang L ngồi nghỉ. Khoảng 04 giờ sáng ngày 08/8/2023, H đi bộ tìm nhà dân sơ hở để đột nhập vào lấy trộm tài sản, phát hiện nhà của ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc B tại địa chỉ: TDP T, thị trấn S, huyện Q có đèn sáng, H leo qua tường rào (cạnh cổng chính), đi đến cửa hông nhà dưới, thấy cửa hông đóng nhưng khe cửa hở nên dùng kéo mang theo để gắp hai chốt then gài, mở được cửa H vào trong, đi đến phòng ngủ của vợ chồng ông Đ và bà B, lấy các hộp giấy bên trong tủ nhựa ở góc phòng ngủ, đưa ra giường ở nhà dưới lục lọi lấy 01 đôi bông tai, 01 dây chuyền có gắn tượng (màu vàng); 02 dây chuyền, 01 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai (màu trắng) cất giấu vào túi quần của mình; H tiếp tục quay lại phòng ngủ, thấy 01 túi xách màu đen của chị B để ở trên giường ngủ, H lấy túi xách đưa ra phía trước sân, lục lọi túi xách thấy có 194.000 đồng và 01 tờ USD có mệnh giá 02 (hai) đô la, H lấy số tiền trên và quay lại vào phòng ngủ để tiếp tục lục lọi lấy tài sản thì bị ông Đ phát hiện truy đuổi ra trước sân nhà. Khi ông Đ đuổi đến cách H 1,2 m thì H dùng súng điện (có gắn 02 ngòi đạn kim loại hình trụ tròn, một đầu có gắn mũi kim có tổng chiều dài 2,8 cm, đường kính 0,5 cm, đầu còn lại có gắn một đoạn dây dẫn có lõi bằng kim loại bên ngoài được bọc vải sợi màu trắng) bắn vào ông Đ một phát, làm ông Đ bị thương tích ở vùng ngực phải, H chạy đến tường rào phía sau nhà ông Đ, ông Đ tiếp tục đuổi theo thì H dùng súng điện bắn phát thứ hai (không có đầu đạn, chỉ có tiếng kêu từ nguồn điện) rồi leo tường rào sang nhà ông Bùi B1 ở cạnh nhà ông Đ. Khi nghe tiếng tri hô của ông Đ thì ông B1 cùng với anh Bùi Ngọc T anh Nguyễn Văn H1 cùng trú cạnh nhà ông Đ truy đuổi và bắt giữ được H cùng tang vật.

Kết luận giám định số 1671/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng trực thuộc V kết luận:

  • - 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng có hàm lượng vàng là 65,0% đồng là 29,4%, kẽm 5,6%; khối lượng mẫu là 3,18 gam.
  • - 01 (một) mặt dây chuyền (tượng) bằng kim loại, màu vàng có hàm lượng đồng là 46,1%, vàng là 40,6%, bạc là7,2%, kẽm là 6,1%; tổng khối lượng mẫu là 1,40 gam (tính cả khối lượng các hạt chất màu trắng).
  • - 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu trắng, có hàm lượng bạc là 90,6%, đồng là 5,1%, kẽm là 4,3%; khối lượng mẫu là 3,20 gam.
  • - 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng có hàm lượng vàng là 61,0%, đồng là 20,4%, bạc là 18,6%; tổng khối lượng mẫu là 3,73 gam (tính cả khối lượng các hạt chất màu trắng).
  • - 01 (một) đôi bông tai kim loại, màu trắng có hàm lượng đồng là 63,1%, kẽm là 36,7%; tổng khối lượng mẫu là 7,32 gam (tính cả khối lượng các hạt chất màu trắng).
  • - 01 (một) nhẫn kim loại, màu trắng có hàm lượng bạc là 88,5%, kẽm là 5,8%, đồng là 5,7%; tổng khối lượng mẫu là 0,71 gam (tính cả khối lượng chất màu xám đen).

Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 đôi bông tai, 01 dây chuyền có gắn tượng (màu vàng); 02 dây chuyền, 01 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai (màu trắng) có trị giá 7.139.000 đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 02 USD có trị giá 47.986 đồng.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 354-23/KLTTCT-GĐPY ngày 15/8/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thuộc Sở Y đối với ông Nguyễn Ngọc Đ kết luận: Tổn thương phần mềm trước ngực phải để lại sẹo trung bình 02%.

Vật gây, cơ chế hình thành dấu vết: Tổn thương trước ngực phải do bỏng nhiệt được hình thành do tiếp xúc giữa phần trước ngực phải nạn nhân với vật có điện hình oval 1,5 x 0,9 cm phù hợp với tài liệu điều tra do roi điện”.

Kết luận giám định số 540/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 01 (một) súng bắn điện gửi giám định thuộc loại công cụ hỗ trợ, không phải là vũ khí.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) kéo dài 22cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa, trên phần lưỡi có dòng chữ “STAINLESSSTEEL";
  • - 01 (một) kéo dài 20cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa;
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 30cm, cán nhựa màu đỏ xám và có dòng chữ “APBA-VS” “TAIWAN TYPE”, lưỡi kim loại màu đen và có dòng chữ “APBA-VS” “H6 x 150mm";
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 25cm, cán nhựa màu vàng xanh và có dòng chữ “Topwin”, lưỡi kim loại màu trắng và có dòng chữ “CHROMEVANADIUM”;
  • - 01 (một) đôi găng tay vải sợi len màu đen trắng, ở phía cổ tay sợi vải viền màu đỏ;
  • - 01 (một) đôi tất vải sợi len màu đen xám, một chiếc có dòng chữ “LMK”, một chiếc có hình con cá sấu;
  • - 01 (một) kềm dài 18cm, cán nhựa màu cam xám;
  • - 01 (một) đèn pin dài 10cm, màu trắng xanh, loại đèn pin sạc điện, có dán tem nhãn tròn màu xanh, trên tem nhãn có dòng chữ “PLEASE CHARGE IT EVERY 3 MONTHS QC PASSED OYEY";
  • - 01 (một) chai keo 502 màu trắng, mã K2DR1;
  • - 01 (một) khẩu trang vải màu xám, kích thước khoảng 7cm x30cm;
  • - 01 (một) túi xách (dạng túi xách đeo ở trước bụng) màu đen, có dây đeo, có nhiều ngăn;
  • - 01 (một) súng điện bằng nhựa màu đen, có hình hộp vòng cung, dài 15cm, trên thân có dòng chữ “FBQ2002-A” và “80KV” ngoài ra còn có nhiều ký tự khác. Ở phần đầu có gắn 02 thanh kim loại và đèn chiếu sáng, phần đuôi có lỗ cắm sạc, trên thân có các công tắc; cùng với 02 thỏi kim loại hình trụ tròn, một đầu có gắn mũi kim có tổng chiều dài 2,8cm, đường kính 0,5cm, đầu còn lại có gắn một đoạn dây dẫn có lõi bằng kim loại bên ngoài được bọc vải sợi màu trắng và các mảnh nhựa; được niêm phong trong túi giấy niêm phong có mã số PS3A 079621 dán niêm phong và có chữ ký của ông Đinh Thế T1 và ông Hồ Viết H2.
  • - Số tiền 194.000 đồng và 819.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

Ngày 18/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 27/QĐ-ĐTHS trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc B: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng; 01 (một) mặt dây chuyền (tượng) bằng kim loại, màu vàng; 02 (hai) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu trắng; 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng; 01 (một) đôi bông tai kim loại, màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại, màu trắng; 01 (một) tờ tiền 02 USD và số tiền 194.000 đồng.

Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 21/QĐ-ĐTHS ngày 20/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q trả lại cho bị cáo Lê Hữu H số tiền 819.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc B đã nhận lại đủ tài sản bị mất trộm, nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 28/CT- VKSQĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm đ, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo H mức án từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ 08/8/2023.

Về xử lý vật chứng: Bà B, ông Đ đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Ngày 20/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Lê Hữu H số tiền 819.000 đồng. Bị cáo đã nhận lại đủ không có ý kiến gì.

Đề nghị : Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các vật chứng bị cáo dùng phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ gồm:

  • - 01 (một) kéo dài 22cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa, trên phần lưỡi có dòng chữ “STAINLESSSTEEL";
  • - 01 (một) kéo dài 20cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa;
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 30cm, cán nhựa màu đỏ xám và có dòng chữ “APBA-VS” “TAIWAN TYPE”, lưỡi kim loại màu đen và có dòng chữ “APBA-VS" "H6 x 150mm";
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 25cm, cán nhựa màu vàng xanh và có dòng chữ “Topwin”, lưỡi kim loại màu trắng và có dòng chữ “CHROMEVANADIUM”;
  • - 01 (một) đôi găng tay vải sợi len màu đen trắng, ở phía cổ tay sợi vải viền màu đỏ;
  • - 01 (một) đôi tất vải sợi len màu đen xám, một chiếc có dòng chữ “LMK”, một chiếc có hình con cá sấu;
  • - 01 (một) kềm dài 18cm, cán nhựa màu cam xám;
  • - 01 (một) đèn pin dài 10cm, màu trắng xanh, loại đèn pin sạc điện, có dán tem nhãn tròn màu xanh, trên tem nhãn có dòng chữ “PLEASE CHARGE IT EVERY 3 MONTHS QC PASSED OYEY”;
  • - 01 (một) chai keo 502 màu trắng, mã K2DR1;
  • - 01 (một) khẩu trang vải màu xám, khích thước khoảng 7cm x30cm;
  • - 01 (một) túi xách (dạng túi xách đeo ở trước bụng) màu đen, có dây đeo, có nhiều ngăn;
  • - 01 (một) súng điện bằng nhựa màu đen, có hình hộp vòng cung, dài 15cm, trên thân có dòng chữ “FBQ2002-A” và “80KV” ngoài ra còn có nhiều ký tự khác. Ở phần đầu có gắn 02 thanh kim loại và đèn chiếu sáng, phần đuôi có lỗ cắm sạc, trên thân có các công tắc; cùng với 02 thỏi kim loại hình trụ tròn, một đầu có gắn mũi kim có tổng chiều dài 2,8cm, đường kính 0,5cm, đầu còn lại có gắn một đoạn dây dẫn có lõi bằng kim loại bên ngoài được bọc vải sợi màu trắng và các mảnh nhựa; được niêm phong trong túi giấy niêm phong có mã số PS3A 079621 dán niêm phong và có chữ ký của ông Đinh Thế T1 và ông Hồ Viết H2.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bà B, ông Đ không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự, nên không xem xét.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 08/8/2023 với ý định trộm cắp tài sản bị cáo Lê Hữu H đã đột nhập vào nhà của ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc B tại TDP T, thị trấn S, huyện Q theo lối cửa hông nhà dưới đi vào phòng ngủ của vợ chồng ông Đ, bà B lấy trộm 01 đôi bông tai, 01 sợ dây chuyền gắn tượng màu vàng, 02 sợ dây chuyền, 01 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai màu trắng, 194.000 đồng, 01 tờ USD có mệnh giá 02 đô la. Ông Đ phát hiện truy đuổi, bị cáo H dùng súng điện mang theo bắn vào ông Đ 01 phát làm ông Đ bị thương ở vùng ngực tỷ lệ tổn thương cơ thể 02%. Sau đó bị cáo H bị mọi người bắt giữ cùng tang vật. Tổng tài sản bị cáo H trộm cắp của vợ chồng ông Đ, bà B là 7.380.986 đồng. Tại bản án số 42/2019/HS- ST ngày 19/9/2019 bị cáo H bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” đã áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này bị cáo phạm vào tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và khi phạm tội bị cáo H đã dùng súng điện bắn vào ngực ông Đ gây tổn thương cơ thể ông Đ 02% thuộc trường hợp hành hung để tẩu thoát nên phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại các điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo H tại bản cáo trạng số 26/CT- VKSQĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 là có căn cứ pháp luật.

[2] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện do thiếu tiền tiêu xài, lười lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có ý định trộm cắp từ trước nên chuẩn bị công cụ phạm tội, khi bị phát hiện bị cáo chống trả để tẩu thoát. Hành vi này của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo H có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, hiện có 03 tiền án, nhưng bị cáo vẫn không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên cần phải xử nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo H không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: Bà B, ông Đ đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Ngày 20/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Lê Hữu H số tiền 819.000 đồng. Bị cáo đã nhận lại đủ không có ý kiến gì.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các vật chứng bị cáo dùng phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ gồm:

  • - 01 (một) kéo dài 22cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa, trên phần lưỡi có dòng chữ “STAINLESSSTEEL";
  • - 01 (một) kéo dài 20cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa;
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 30cm, cán nhựa màu đỏ xám và có dòng chữ “APBA-VS” “TAIWAN TYPE”, lưỡi kim loại màu đen và có dòng chữ “APBA-VS" "H6 x 150mm";
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 25cm, cán nhựa màu vàng xanh và có dòng chữ “Topwin”, lưỡi kim loại màu trắng và có dòng chữ “CHROMEVANADIUM”;
  • - 01 (một) đôi găng tay vải sợi len màu đen trắng, ở phía cổ tay sợi vải viền màu đỏ;
  • - 01 (một) đôi tất vải sợi len màu đen xám, một chiếc có dòng chữ “LMK”, một chiếc có hình con cá sấu;
  • - 01 (một) kềm dài 18cm, cán nhựa màu cam xám;
  • - 01 (một) đèn pin dài 10cm, màu trắng xanh, loại đèn pin sạc điện, có dán tem nhãn tròn màu xanh, trên tem nhãn có dòng chữ “PLEASE CHARGE IT EVERY 3 MONTHS QC PASSED OYEY”;
  • - 01 (một) chai keo 502 màu trắng, mã K2DR1;
  • - 01 (một) khẩu trang vải màu xám, khích thước khoảng 7cm x30cm;
  • - 01 (một) túi xách (dạng túi xách đeo ở trước bụng) màu đen, có dây đeo, có nhiều ngăn;
  • - 01 (một) súng điện bằng nhựa màu đen, có hình hộp vòng cung, dài 15cm, trên thân có dòng chữ “FBQ2002-A” và “80KV” ngoài ra còn có nhiều ký tự khác. Ở phần đầu có gắn 02 thanh kim loại và đèn chiếu sáng, phần đuôi có lỗ cắm sạc, trên thân có các công tắc; cùng với 02 thỏi kim loại hình trụ tròn, một đầu có gắn mũi kim có tổng chiều dài 2,8cm, đường kính 0,5cm, đầu còn lại có gắn một đoạn dây dẫn có lõi bằng kim loại bên ngoài được bọc vải sợi màu trắng và các mảnh nhựa; được niêm phong trong túi giấy niêm phong có mã số PS3A 079621 dán niêm phong và có chữ ký của ông Đinh Thế T1 và ông Hồ Viết H2.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà B. ông Đ không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

Đối với hành vi bị cáo dùng súng điện bắn vào ngực ông Đ gây tổn thương cơ thể 02%, nhưng ông Đ không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự nên không xem xét. Vì vậy, Công an huyện Q lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính theo quy định. Quá trình điều tra xác định bị cáo H2 không phạm vào tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hổ trợ được quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự do bị cáo H2 chưa bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo H2 về hành vi: “Sử dụng vũ khí, công cụ hổ trợ mà không có giáy phép” với mức phạt tiền 7.500.000 đồng là có cơ sở.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[8] Về án phí: Bị cáo H2 phải chịu 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Hữu H (tên gọi khác: H què) phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu H 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ 08/8/2023.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 01 (một) kéo dài 22cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa, trên phần lưỡi có dòng chữ “STAINLESSSTEEL";
  • - 01 (một) kéo dài 20cm, cán nhựa màu cam, lưỡi kim loại màu trắng, phần lưỡi có cắt, mài chỉnh sửa;
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 30cm, cán nhựa màu đỏ xám và có dòng chữ “APBA-VS” “TAIWAN TYPE”, lưỡi kim loại màu đen và có dòng chữ “APBA-VS" "H6 x 150mm";
  • - 01 (một) tuốc nơ vít dài 25cm, cán nhựa màu vàng xanh và có dòng chữ “Topwin”, lưỡi kim loại màu trắng và có dòng chữ “CHROMEVANADIUM";
  • - 01 (một) đôi găng tay vải sợi len màu đen trắng, ở phía cổ tay sợi vải viền màu đỏ;
  • - 01 (một) đôi tất vải sợi len màu đen xám, một chiếc có dòng chữ “LMK”, một chiếc có hình con cá sấu;
  • - 01 (một) kềm dài 18cm, cán nhựa màu cam xám;
  • - 01 (một) đèn pin dài 10cm, màu trắng xanh, loại đèn pin sạc điện, có dán tem nhãn tròn màu xanh, trên tem nhãn có dòng chữ “PLEASE CHARGE IT EVERY 3 MONTHS QC PASSED OYEY";
  • - 01 (một) chai keo 502 màu trắng, mã K2DR1;
  • - 01 (một) khẩu trang vải màu xám, kích thước khoảng 7cm x30cm;
  • - 01 (một) túi xách (dạng túi xách đeo ở trước bụng) màu đen, có dây đeo, có nhiều ngăn;
  • - 01 (một) súng điện bằng nhựa màu đen, có hình hộp vòng cung, dài 15cm, trên thân có dòng chữ “FBQ2002-A” và “80KV” ngoài ra còn có nhiều ký tự khác. Ở phần đầu có gắn 02 thanh kim loại và đèn chiếu sáng, phần đuôi có lỗ cắm sạc, trên thân có các công tắc; cùng với 02 thỏi kim loại hình trụ tròn, một đầu có gắn mũi kim có tổng chiều dài 2,8cm, đường kính 0,5cm, đầu còn lại có gắn một đoạn dây dẫn có lõi bằng kim loại bên ngoài được bọc vải sợi màu trắng và các mảnh nhựa; được niêm phong trong túi giấy niêm phong có mã số PS3A 079621 dán niêm phong và có chữ ký của ông Đinh Thế T1 và ông Hồ Viết H2.

(Các vật chứng trên có đặc điểm theo bên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền ngày 24/11/2023).

-Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT. Huế;
  • - VKSND tỉnh TT. Huế;
  • - VKSND huyện Quảng Điền;
  • - Công an huyện Quảng Điền;
  • - Sở tư pháp tỉnh TT. Huế;
  • - Phòng PV 10 CA tỉnh TT. Huế;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Lê Tuyết Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS- ST ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 01/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hùng 3 năm 9 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger