TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-01-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 638/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27-11-2023, Quyết định hoãn phiên toà số 78/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14-12-2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai T, sinh năm: 1974 (vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố D, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Phan Như T1, sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A đường V, khu phố F, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Bà và ông Phan Như T1 là vợ chồng chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K năm 2007. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn do ông T1 đánh đập nhưng bà vẫn tha thứ, bỏ qua để tiếp tục níu kéo hạnh phúc gia đình.
Đến năm 2017, bà và ông T1 ly thân, bà sống tại số D đường M, phường T, thành phố P - T; ông T1 về sống với mẹ ruột tại khu phố F, phường K, thành phố P - T. Lý do ly thân vì ông T1 có quan hệ với người phụ nữ khác.
Đến tháng 4-2023, bà có phát sinh quan hệ tình cảm với một người đàn ông khác tại Đ.
Đến tháng 6-2023, bà phải chuyển về chung sống với ông T1 tại khu phố F, phường K vì ông T1 lấy con gái để ép buộc bà quay lại và biết việc bà có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác.
Từ đó, ông T1 bạo hành cả về tinh thần lẫn thể xác của bà, có những hành động, cử chỉ và lời nói khủng bố tinh thần, đe doạ cuộc sống của bà và thường xuyên đánh đập bà. Ông T1 ép buộc bà phải nhận mình ngoại tình với những người đàn ông khác nhau. Quá sợ hãi bà đã bỏ trốn khỏi nhà và chuyển đến nơi khác sống.
Bà rất sợ hãi khi phải tiếp tục sống với người chồng vũ phu cả về tinh thần lẫn thể xác. Bà biết một phần nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng do bà ngoại tình, nhưng bà đã cố gắng quay lại sống vì chồng, vì con. Ông T1 không tha thứ mà cứ đay nghiến lỗi sai của bà, làm cuộc sống vợ chồng ngột ngạt. Bà rất sợ hãi khi tính mạng và sức khoẻ của bản thân bị đe doạ nên mong muốn ly hôn.
Lý do bà xin vắng mặt vì sợ hãi mỗi khi gặp ông T1 và để đảm bảo cho tính mạng của bà.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Phan Khánh T2, sinh ngày 03-11-2007; Phan Gia H1, sinh ngày 09-7-2015. Mặc dù không sống chung nhưng ông T1 vẫn gặp gỡ các con chung. Nếu được ly hôn, bà muốn được nuôi cả 02 con để các con được sống trong một môi trường lành mạnh, không phải thấy cảnh ba đánh đập mẹ. Bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng.
Hiện nay bà đang làm việc tại bệnh viện. Thu nhập của bà đủ sống để nuôi các con và cũng có sự hỗ trợ từ gia đình của bà.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
Ông T1 không đồng ý ly hôn vì còn yêu thương vợ con. Ông thừa nhận có 01 lần đánh vợ vì tức giận do bà T nhiều lần ngoại tình. Ông đã khuyên can, tha thứ nhưng bà T vẫn tiếp diễn việc ngoại tình nên ông mới tức giận đánh bà T. Hiện nay bà T vẫn đang ngoại tình với nhiều người. Nhưng ông còn thương yêu bà T, không muốn con cái thiếu thốn cảm của cha mẹ nên không đồng ý ly hôn.
Hiện nay ông đang bị tạm giam, không thể có mặt để xét xử vụ án ly hôn của bà T được. Nhưng ông không đồng ý ly hôn vì còn yêu thương gia đình, không muốn gia đình bị xấu hổ khi vợ chồng ly hôn. Bà T ngoại tình nhưng lại đi tố cáo để xử lý hình sự, bắt giam ông nên ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông đồng ý giao 02 con chung cho bà T nuôi dưỡng nhưng phải theo nguyện vọng của 02 cháu và ông không cấp dưỡng vì đang bị tạm giam.
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vê quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu câu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Phan Như T1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điêu 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại phường K, thành phố P - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điêu 35, khoản 1 Điêu 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Bà Nguyễn Thị Mai T và ông Phan Như T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 05-12-2007, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điêu 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà T vẫn giữ nguyên yêu câu khởi kiện xin ly hôn; bị đơn ông T1 không đồng ý ly hôn.
[2.2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà T xin ly hôn với lý do ông T1 nhiều lần bạo lực gia đình, đe doạ và khủng bố tinh thân của bà. Ông T1 không đồng ý ly hôn vì còn yêu thương vợ con. Ông T1 cũng thừa nhận có một lân đánh đập bà T.
Theo đơn xin xác nhận của bà T có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, của Ủy ban nhân dân phường K vê việc bà T và ông T1 đã không còn chung sống từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay, mỗi người sống một nhà riêng; xác nhận của Công an phường K vê việc có chuyển hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T về hành vi đánh đập bà T của ông T1 và xác nhận của Bệnh viện tỉnh N về việc vợ chồng bà T, ông T1 có mâu thuẫn, ông T1 có hành vi chửi bới, to tiếng với bà T tại nơi làm việc.
Cả ông T1 và bà T cũng thừa nhận bà T đã ngoại tình trong thời gian chung sống với ông T1.
Điêu 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Thấy rằng, cuộc sống vợ chồng giữa ông T1 và bà T không có tiếng nói chung, đã xảy ra xô xát, xúc phạm nhau cả về tinh thần lẫn thể xác làm rạn nứt tình cảm vợ chồng, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý cho các con chung, ảnh hưởng đến công việc, tình hình an ninh trật tự và cuộc sống sinh hoạt của cả hai.
Vì vậy, căn cứ Điêu 56 Luật hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[2.3] Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Phan Khánh T2, sinh ngày 03-11-2007; Phan Gia H1, sinh ngày 09-7-2015. Bà T có yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con, Hội đồng xét xử thấy rằng: các cháu đều có nguyện vọng được sống với mẹ. Bà T có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, có khả năng để nuôi con; ông T1 là tài xế đường dài tuyến Bắc – N, mỗi lần lái xe di chuyển đều hơn 10 ngày và hiện nay đang bị tạm giam, khó có thể đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dưỡng các con chung nên Hội đồng xét xử giao 02 cháu Phan Khánh T2 và Phan Gia H1 cho bà Nguyễn Thị Mai T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phan Như T1 không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.
[3] Tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điêu 28; khoản 1 Điêu 35; khoản 1 Điêu 39; khoản 4 Điêu 147; Điêu 227; Điêu 228; Điêu 271 và Điêu 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điêu 81; Điêu 82 và Điêu 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Vê hôn nhân: Chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với ông Phan Như T1.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mai T được quyên trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Phan Khánh T2, sinh ngày 03-11-2007; Phan Gia H1, sinh ngày 09-7-2015. Ông Phan Như T1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị Mai T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyên, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mai T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đông) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiên tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0005795 ngày 05-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà T đã nộp đủ án phí.
4. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mai T ly hôn Phan Như T1
