TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HS-ST | Ngày: 02-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Trần Hoàng Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ H - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2023/QĐXXST-HS ngày 19-12-2023 đối với:
Bị cáo: Dương Thị N, sinh năm 1999 tại Ninh Thuận; Hộ khẩu thường trú: Khu phố N, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T và bà Lê Thị Kim N1; Chồng ông Nguyễn Thế S và 01 con. Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người bị hại: Ông Trần Văn P, sinh năm: 1963 (vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1965 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 14-7-2023, Dương Thị N đi bộ một mình quanh khu vực dãy trọ thuộc khu phố F, phường P, thành phố P - T thì thấy nhà ông Trần Văn P tại số nhà C, đường H, thuộc khu phố F, phường P, không có ai trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. N leo qua cổng chính đi vào trong nhà của ông P rồi đến phòng ngủ của bà Nguyễn Thị L lấy 01 con heo đất màu đỏ, dưới bụng màu nâu vàng, bên trong có chứa số tiền 2.000.000 đồng và 01 phong bì lì xì màu đỏ bên trong có chứa số tiền 2.000.000 đồng của ông P. N đặt con heo đất và phong bì trên giỏ đồ chơi trước cửa phòng ngủ để tiếp tục đi vào phòng của ông P, lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu vàng gold, rồi vào phòng ngủ kế tiếp lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung DOUS màu vàng gold của ông P. Sau khi lấy được 02 chiếc điện thoại di động cầm trên tay, N thấy bà L đang mở cửa dắt xe vào nhà. Do lo sợ bà L phát hiện, N đã để lại con heo đất và phong bì trước cửa phòng ngủ, chỉ kịp cầm 02 chiếc điện thoại di động bỏ chạy. Thấy bà L đuổi theo hô hoán, nên N vứt lại 02 chiếc điện thoại di động trên đường H rồi bỏ chạy về nhà.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 70/KL-HĐĐGTS ngày 30-7-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố P - T kết luận:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu vàng gold, đã qua sử dụng, hiện trên thị trường không còn sản xuất mới, vào thời điểm ngày 14-7-2023 có giá trị thực là 300.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại hiệu Samsung DOUS màu vàng gold đã qua sử dụng, hiện trên thị trường không còn sản xuất mới, vào thời điểm ngày 14-7-2023, có giá trị thực là 350.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà Dương Thị N đã chiếm đoạt của ông Trần Văn P vào ngày 14-7-2023 là 4.650.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Tại Đơn xin xét xử vắng mặt của bị hại ông Trần Văn P không có yêu cầu gì về dân sự; về hình sự: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 186/CT-VKSPRTC ngày 20-11-2023; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Thị N từ 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 12- 18 tháng.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi là sai trái, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 14-7-2023, tại số nhà C, đường H, thuộc khu phố F, phường P, thành phố P-T, Dương Thị N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 con heo đất bên trong có chứa số tiền 2.000.000 đồng; 01 phong bì lì xì bên trong có chứa số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 trị giá 300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung DOUS trị giá 350.000 đồng của ông Trần Văn P. Tổng giá trị tài sản mà Dương Thị N chiếm đoạt là 4.650.000 đồng.
Tuy nhiên, bị cáo N chỉ thực hiện xong hành vi trộm cắp đối với 02 điện thoại di động, riêng con heo đất đựng số tiền 2.000.000đồng và phong bì lì xì có 2.000.000đồng khi thấy chủ sở hữu về nhà nên bị cáo chưa thực hiện xong hành vi thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 186/CT-VKSPRTC ngày 20-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Dương Thị N là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
- Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do mục đích tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018; Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 và 01 điện thoại hiệu S1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Văn P là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Văn P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;
Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018; Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Dương Thị N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Dương Thị N cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Về án phí: Bị cáo Dương Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
(Đã giải thích án treo cho bị cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị N phạm tội
