|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 0997/2024/DS-ST Ngày: 05-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hoàng Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lợi.
- Bà Trần Thị Ngọc Lước.
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 0354/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2024/QĐXXST-DS ngày 22/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 158/2024/QĐST-DS ngày 13/8/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2024/QĐXXST-DS ngày 13/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Trụ sở: 266 – B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: 5 Đường B, Khu A, phường P, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo giấy ủy quyền số: 5312/2023/UQ-TGĐ ngày 28/12/2023 của Công ty Q).
1
- Bị đơn: Ông Hứa Đỗ Minh T, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: G C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và quá trình giải quyết vụ án ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/3/2022, ông Hứa Đỗ Minh T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.500.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã không thanh toán cho Ngân hàng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/8/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc ông Hứa Đỗ Minh T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 05/9/2024 là 69.221.054 đồng trong đó: Nợ gốc là 34.888.076 đồng; lãi quá hạn là 34.332.078 đồng.
- Buộc ông Hứa Đỗ Minh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
2
Ông Hứa Đỗ Minh T là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Hứa Đỗ Minh T phải thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng số tiền là là 69.221.054 đồng trong đó (Nợ gốc là 34.888.076 đồng; lãi quá hạn là 34.332.078 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2022.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, T1 phồ Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2022. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng cấp tín dụng của nguyên đơn với khách hàng cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
[1.2] Thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 33 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2022 quy định: “ ĐKĐK này được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Các tranh chấp phát sinh từ Hợp Đồng không thể giải quyết được bằng thương lượng sẽ được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền”. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ghi rõ bị đơn có địa chỉ thường trú là G C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ hiện tại là G C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo phúc đáp của Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung đương sự Hứa Đỗ Minh T, sinh năm 1980, hiện đăng ký thường trú tại địa chỉ G C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/1980 đến nay. Nhà hiện đã bán và đang cư trú tại địa chỉ B, Liên ấp, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo phúc đáp của Công an xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung không có địa chỉ B18/21/4, L, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú nên địa chỉ G C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự: nếu phát sinh tranh chấp và các bên không có thỏa thuận khác thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án cấp quận, huyện nơi bị đơn cư trú. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc, lãi theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2022 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.3] Thời hiệu khởi kiện:
Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện. Căn cứ vào khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử không giải quyết về thời hiệu khởi kiện.
[1.4] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Ngày 17/7/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Thân Lê N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Theo phúc đáp của Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và Công an xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện nơi cư trú cuối cùng của ông T tại địa chỉ G
4
C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Xét, căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[1.5] Việc thu thập chứng cứ:
Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án.
Xét thấy, bị đơn là ông Hứa Đỗ Minh T đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tống đạt các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
[2] Nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc của thẻ tín dụng Visa Classic.
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/03/2022, được lập và có chữ ký giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần S và ông Hứa Đỗ Minh T đủ cơ
5
sở để xác định Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng Visa Classic, hạn mức sử dụng chung là 30.000.000 đồng, hình thức đảm bảo là tín chấp cho Hứa Đỗ Minh T. Việc cấp thẻ này được thực hiện theo Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 29 tháng 11 năm 2019 và được niêm yết tại trang web của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng đây là loại hợp đồng theo mẫu được ký kết đúng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Tóm tắt sao kê và lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.500.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ, bị đơn không đã thanh toán số tiền nào cho Ngân hàng.
Căn cứ Điều 24 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có nội dung: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng”. Ngân hàng đã gửi Thông báo khởi kiện vào ngày 27 tháng 12 năm 2022 thông báo bị đơn đã vi phạm Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Xét, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/3/2022, Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc của thẻ tín dụng Visa Classic với số tiền là 34.888.076 đồng có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi quá hạn tính đến ngày 05/9/2024 và tiền lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng:
Số tiền gốc được chuyển thành nợ quá hạn của thẻ tín dụng Visa Classic là 34.888.076 đồng bao gồm các giao dịch, phí trễ hạn, lãi, phí rút tiền, phí thường niên được tính đúng theo thỏa thuận của hai bên.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của thẻ tín dụng Visa Classic sang nợ quá hạn từ ngày 10 tháng 8 năm 2024 và tiến hành thu hồi nợ vay là đúng theo thỏa thuận của hợp đồng và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
6
Tại Quyết định số 2399/2019/QĐ-VBLQ ngày 06 tháng 8 năm 2019 của nguyên đơn về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam thì mức lãi suất là 28,8%/năm; mức lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn áp dụng đối với tất cả thẻ tín dụng quốc tế nguyên đơn phát hành cho khách hàng.
Xét, theo quy định tại khoản 14 Điều 4 và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật. Mức lãi suất của nguyên đơn thỏa thuận với bị đơn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 34.332.978 đồng là nợ lãi quá hạn của thẻ tín dụng Visa Classic là có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo các Điều 22, 23 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
[2.3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 69.221.054 đồng, trong đó nợ gốc là 34.888.076 đồng, nợ lãi quá hạn là 34.332.078 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Án phí:
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.461.053 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
7
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 405, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 14 Điều 4, khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Hứa Đỗ Minh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 69.221.054 đồng (sáu mươi chín triệu, hai trăm hai mươi mốt ngàn, không trăm năm mươi tư đồng). Trong đó nợ gốc là 34.888.076 đồng (ba mươi bốn triệu, tám trăm tám mươi tám ngàn, không trăm bảy mươi sáu đồng) và nợ lãi quá hạn là 34.332.978 đồng (ba mươi bốn triệu, ba trăm ba mươi hai ngàn, chín trăm bảy mươi tám đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14 tháng 3 năm 2022.
Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Hứa Đỗ Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.461.053 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp
8
là 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0032316 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghĩa vụ thi hành án:
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14 tháng 3 năm 2022 và Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có hiệu lực từ ngày 29 tháng 11 năm 2019 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Hoàng Yến |
9
10
Bản án số 0997/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 0997/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
