Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG LÔ

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 09/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bằng

Bà Nguyễn Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Lại Phương Thúy, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N1

Địa chỉ: số B L, phường L quận B, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp Luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Thanh H - Giám đốc Ngân hàng N1 chi nhánh huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người được ủy quyền lại: Ông Trần Chí T- Phó giám đốc Ngân hàng N1 chi nhánh huyện S (có mặt).

Bị đơn:

  1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976, vắng mặt

  2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978, vắng mặt

Đều trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

  1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1935, ủy quyền cho anh Nguyễn Văn L theo văn bản ủy quyền ngày 16/01/2024, vắng mặt.

  2. Cháu Nguyễn Đức H2, sinh năm 1999, vắng mặt

Đều cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Cháu Nguyễn Đức N, sinh năm 2005, vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/9/2023 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Chí T2 trình bày:

Ngày 21/01/2021 Ngân hàng N1 (Viết tắt A) - chi nhánh huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc đã ký hợp đồng tín dụng số 2808- LAV – 202000259 với anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn H1 và cháu Nguyễn Đức H2 (Chị T1, ông H1, cháu H2 ủy quyền cho anh L tham gia việc ký kết nhận tiền và làm các thủ tục với ngân hàng). Theo đó, Ngân hàng cho anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 vay số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng), theo giấy nhận nợ ngày 11/01/2022, mục đích sử dụng tiền: chăn nuôi trâu bò; phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức; lãi suất cho vay : áp dụng lãi suất điều chỉnh, khi lãi suất cho vay của A tăng hoặc lãi suất cho vay của A chi nhánh tỉnh V điều chỉnh tăng thì lãi suất cho vay tại hợp đồng tín dụng này cũng điều chỉnh tăng tương ứng. Ngân hàng được chủ động điều chỉnh lãi suất cho vay đối với toàn bộ dư nợ còn đến thời điểm thay đổi lãi suất theo mức lãi cho vay mới; lãi suất quá hạn tối đa bằng: 150% so với lãi suất trong hạn; lãi chậm trả là 10%/năm, lãi suất tại thời điểm cho vay là 9%/năm; thời hạn trả lãi 01 tháng/lần vào ngày 16 hàng tháng, thời hạn vay là 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 11/01/2023.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, ngày 11/01/2022 Ngân hàng đã giải ngân cho anh L vay số tiền: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Để đảm bảo cho khoản vay, anh L, chị T1 đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2805-209436987/HĐTC ngày 20/01/2021, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 204, tờ bản đồ số 7, diện tích 746m², trong đó đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm 446m², tại thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào số cấp giấy số: 00489 QSDĐ/336/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 20/10/1999 mang tên hộ ông Nguyễn Văn H1.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh Nguyễn Văn L đã vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng, không trả được lãi và gốc khi đến hạn. Khoản vay của anh Nguyễn Văn L đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 12/01/2023. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, làm việc nhiều lần nhưng anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 đã không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ lãi và trả gốc theo cam kết với Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh L đã thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/5/2024 được tổng số tiền: 44.545.716đồng, trong đó số tiền gốc là: 18.900.000đồng, tiền lãi: 25.645.716đồng. Nay ngân hàng yêu cầu anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo quy định trong hợp đồng tín dụng số: 2808- LAV - 202100259 ngày 21/01/2021 với tổng số tiền là: 344.767.067đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 281.100.000đồng; Tiền nợ lãi tính đến ngày 30/5/2024 là : 63.667.067đồng, trong đó lãi trong hạn là: 43.032.408đồng, lãi quá hạn là: 20.634.659đồng. Anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 tiếp tục phải trả lãi quá hạn phát sinh trên số tiền gốc kể từ ngày 31/5/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ khoản vay theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên. Nếu anh L, chị T1 không trả được nợ, đề nghị cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ, nếu số tiền phát mại tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ, anh L, chị T1 phải tiếp tục trả nợ đến khi tất toán tài xong khoản nợ.

Bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh xác định toàn bộ nội dung gia đình anh vay mượn như đại diện ngân hàng trình bày về việc ký kết, hợp đồng thế chấp, quá trình thực hiện hợp đồng là đúng. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, vợ chồng anh chị đã được ngân hàng giải ngân số tiền 300.000.000đồng và anh chị cũng thực hiện nghĩa vụ trả lãi hàng tháng cho ngân hàng tổng số tiền là: 44.545.716 đồng, trong đó: 18.900.000đồng tiền gốc, còn lại là tiền lãi. Nhưng sau đó do làm ăn kinh tế khó khăn, chăn nuôi thua lỗ nên anh chị không có khả năng tiếp tục trả nợ cho ngân hàng. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh chị trả nợ cho ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền gốc là: 281.100.000đồngvà số tiền lãi, anh đồng ý trả nhưng do kinh tế khó khăn nên anh xin trả dần. Nếu vợ chồng anh chị không trả được nợ, ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 204, tờ bản đồ số 7, diện tích 746m², trong đó đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm 446m², tại thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào số cấp giấy số: 00489 QSDĐ/336/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 20/10/1999 mang tên hộ ông Nguyễn Văn H1, anh đồng ý.

Đồng bị đơn là chị Nguyễn Thị T1, cháu Nguyễn Đức H2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Nguyễn Đức N vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng chị T1, cháu H2, cháu N vẫn vắng mặt, chị T1, cháu H2, cháu N biết việc ngân hàng khởi kiện nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định về thụ lý vụ án, xác định tư cách tố tụng của các đương sự, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành xác minh thu thập chứng cứ đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Do anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, do đó cần chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng A buộc anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 phải trả Ngân hàng A tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/5/2024 là: 344.767.067đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 281.100.000đồng; Tiền nợ lãi tính đến ngày 30/5/2024 là: 63.667.067đồng, trong đó lãi trong hạn là: 43.032.408đồng, lãi quá hạn là: 20.634.659đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét thấy:

[1]. Về tố tụng: Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/9/2023 của Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn H1, cháu Nguyễn Đức H2, đều trú tại thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc phải trả lại Ngân hàng số nợ gốc đã vay và toàn bộ số tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô đã thụ lý xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp hợp đồng tín dụng” và giải quyết theo khoản 3 Điều 26 và Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa các bị đơn là anh Nguyễn Văn L1, chị Nguyễn Thị T1, cháu Nguyễn Đức H2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Nguyễn Đức N vắng mặt lần 2 không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt anh L, chị T1, cháu H2, cháu N.

Xét về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng tín dụng đều đúng quy định của pháp luật và đủ năng lực hành vi dân sự. Việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng pháp luật về hình thức và nội dung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng:

Theo nội dung hợp đồng tín dụng số 2808 - LAV - 20 2100259 ngày 21/01/2021 được ký kết giữa Ngân hàng N1, chi nhánh huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc và anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn H1, cháu Nguyễn Đức H2. Anh L đã vay của Ngân hàng số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng). Số tiền này Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên cho vay và giải ngân theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh L, chị T1 đã vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng, không trả được nợ gốc, nợ lãi khi đến hạn. Ngày 12/01/2023, anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 phải trả toàn bộ số nợ gốc là 300.000.000đồng và số lãi còn lại, nhưng tới thời điểm đó, anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 vẫn không trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi như đã thỏa thuận trong hợp đồng nên khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 12/01/2023. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 trả nợ nhưng vẫn không trả đầy đủ. Kể từ khi vay vốn cho đến nay anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 mới trả số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/5/2024) là: 25.645.716đồng, số tiền gốc là:18.900.000đồng. Như vậy, việc Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 cùng phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng số nợ gốc và số lãi tính đến ngày 30/5/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ nên được chấp nhận.

Cần buộc anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn H1, cháu Nguyễn Đức H2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng N1 tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/5/2024 là: 344.767.067 đồng, trong đó nợ tiền gốc là: 281.100.000đồng; 63.667.067đồng, trong đó lãi trong hạn là: 43.032.408đồng, lãi quá hạn là: 20.634.659đồng. Kể từ ngày 31/5/2024, anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 tiếp tục phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng là 15,75% trên nợ gốc cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2.2] Về hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo cho khoản vay đối với Ngân hàng, ông Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, cháu Nguyễn Đức H2 có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 2802-209436987/HĐTC ngày 20/01/2021. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh S theo đúng quy định của pháp luật.

Qua xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất đứng tên hộ ông H1 là 677,2m², thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngân hàng đồng ý với diện tích đất theo hiện trạng. Trên đất còn có các tài sản gồm: 01 ngôi nhà cấp bốn 03 gian diện tích 54m²; 01 nhà 02 tầng diện tích: 73m²; 02 gian nhà bếp diện tích 20,5m²; 01 nhà vệ sinh diện tích 3,3m²; 01 khu chuồng trại chăn nuôi diện tích 33m²; 01 mái tôn phía đầu đốc nhà diện tích 26m²; 01 sân lát gạch diện tích 151,5m²; 01 mái tôn phía đầu đốc nhà bếp diện tích 13,5m²; 01 mái tôn trước nhà bếp có diện tích 45m²; 01 lối đi đổ bê tông diện tích 109m² và một số cây cối lâm lộc trên đất. Hiện tại, ông H1, vợ chồng anh L, chị T1, cháu H2 và cháu N đang sinh sống trên diện tích đất này. Tại phiên tòa đại diện ngân hàng yêu cầu các tài sản khác trên đất đều được coi là tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay. Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “ Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Qua xem xét hợp đồng thế chấp hai bên không thỏa thuận khác. Theo đại diện ngân hàng và lời khai của anh L cũng như các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thì tất cả những tài sản trên đất là của vợ chồng anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Tuyết. Vì vậy, những tài sản trên đất không nêu trong hợp đồng thế chấp gồm: 02 gian nhà bếp diện tích 20,5m²; 01 nhà vệ sinh diện tích 3,3m²; 01 khu chuồng trại chăn nuôi diện tích 33m²; 01 mái tôn phía đầu đốc nhà diện tích 26m²; 01 sân lát gạch diện tích 151,5m²; 01 mái tôn phía đầu đốc nhà bếp diện tích 13,5m²; 01 mái tôn trước nhà bếp có diện tích 45m²; 01 lối đi đổ bê tông diện tích 109m² và một số cây cối lâm lộc trên đất trên đất đều được xử lý cùng tài sản thế chấp. Hiện tại, vợ chồng anh L, chị T1, cháu H2 đang quản lý toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên. Do đó, trường hợp anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 không trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên anh L, chị T1, cháu H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông H1 thuộc trường hợp người cao tuổi lẽ ra được miễn án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên ông H1 không có đơn xin miễn án phí nên ông H1 vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí.

Về chi phí thẩm xem xét thẩm định tại chỗ, ngân hàng tự nguyện chịu toàn bộ nên không đề nghị xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng N1 đối với anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn H1 và cháu Nguyễn Đức H2.

Buộc anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn H1 và cháu Nguyễn Đức H2 phải liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng N1, chi nhánh S tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/5/2024 là: 344.767.067đồng, trong đó nợ tiền gốc là: 281.100.000đồng; 63.667.067đồng, trong đó lãi trong hạn là: 43.032.408đồng, lãi quá hạn là: 20.634.659đồng. Kể từ ngày 31/5/2024, anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 tiếp tục phải chịu mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng số:2808- LAV – 202000259 ngày 21/01/2022 là 15,75%/năm trên nợ gốc cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 204, tờ bản đồ số 7, diện tích 746m² (diện tích theo hiện trạng là: 677,2m²), tại thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào số cấp giấy số: 00489 QSDĐ/336/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 20/10/1999 mang tên hộ ông Nguyễn Văn H1 và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất để thu hồi nợ. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 phải tiếp tục thực hiện việc thanh toán khoản còn thiếu cho đến khi thanh toán đủ. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm vượt quá phần nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng phải thanh toán trả lại anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 phần vượt quá nghĩa vụ trả nợ.

- Về án phí: anh L, chị T1, ông H1, cháu H2 chịu 17.238.353 đồng (Mười bảy triệu hai trăm ba mươi tám nghìn ba trăm lăm ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí là 8.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000812 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Sông Lô;
  • - Chi cục THADS huyện Sông Lô;
  • - Các đương sự;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Các Hội thẩm nhân dân

Nguyễn Trung Thành

Đặng Thị Liễu

Ngô Thị Minh Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh La chị Tuyết vi phạm hợp đồng tín dụng, ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh chị trả lại toàn bộ số nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger