TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
—————
Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Bình
Ông Lưu Đình Túy
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hoa - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân A - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXX- ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự :
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Số nhà A L, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Lê Khắc C, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 18/7/2024 và bản tự khai ngày 01/8/2024 chị Nguyễn Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Khắc C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 24/7/2009.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được đến tháng 4 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, anh C thường xuyên rượu chè, không chịu tu chí làm ăn, sống không có hạnh phúc, anh C còn đánh đập chị nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 5/2024 chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại số nhà A L, phường T, thành phố T ở từ đó chị và anh C sống ly thân cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị thấy tình cảm giữa chị và anh C thật sự không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là cháu Lê Khắc Trường A1, sinh ngày 03/02/2010 và cháu Lê An N, sinh ngày 16/3/2015, chị M có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng cháu A1 và cháu N và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi cháu A1 và cháu N.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Lê Khắc C. Anh C đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, anh C không có ý kiến gì. Anh C không chấp hành tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Triệu tập anh C đến Tòa án làm việc nhưng anh C vắng mặt không có lý do nên Tòa án thu thập chứng cứ, xác minh tình trạng hôn nhân đối với anh C tại gia đình và địa phương.
Về hôn nhân: Tại bản tự khai ngày 06/8/2024 anh C thống nhất với ý kiến chị M về thời gian và điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, anh cũng thừa nhận vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 4/2024 cho đến nay. Nay chị M có đơn xin ly hôn anh thấy đang còn thương vợ và 02 con nên anh không đồng ý ly hôn chị M.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là cháu Lê Khắc Trường A1, sinh ngày 03/02/2010 và cháu Lê An N, sinh ngày 16/3/2015, hiện nay cháu A1 và cháu N đang ở cùng chị M, anh C có nguyện vọng giao cháu A1 và cháu N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi cháu A1 và cháu N.
Về tài sản: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06/8/2024 cháu Lê Khắc Trường A1 và cháu Lê An N trình bày, cháu A1 và cháu N đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ.
Anh C, chị M đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tại.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân nhân, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị M anh C
Tại biên bản xác minh ngày 28/8/2024 ông Đỗ Văn C1 trưởng thôn 5, xã Đ, huyện Đ trình bày: Chị Nguyễn Thị M và anh Lê Khắc C sau khi kết hôn anh C chị M sinh sống tại địa phương, chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 4/2024 nên từ đó anh chị sống ly thân nhau cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Anh C chị M có 02 con chung là cháu Lê Khắc Trường A1 và cháu Lê An N hiện nay đang ở cùng chị M. Về tài sản và công nợ thì ông không nắm được. Nay chị M xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Lê Khắc C.
Về con chung: Giao cháu Lê Khắc Trường A1 và cháu Lê An N cho chị M trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Anh C chị M không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án Phí: Chị M phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị M có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc hôn nhân gia đình của chị và anh Lê Khắc C, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh C và chị M đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Lê Khắc Chung kết H trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 24/7/2009 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và được UBND phường P cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy hôn nhân giữa chị M và anh C là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị M và anh Lê Khắc C chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh C không chịu tu chí làm ăn, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị M và gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh C không nghe mà còn chửi bới, đánh đập chị nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài được, chị M và anh C đã sống ly thân nhau từ tháng 4/2024 cho đến nay không ai quan tâm đến ai, anh C không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải như vậy anh đã làm mất đi cơ hội đoàn tụ vợ chồng. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cho chị M được ly hôn anh C là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị M và anh C có 02 con chung là cháu Lê Khắc Trường A1, sinh ngày 03/02/2010 và cháu Lê An N, sinh ngày 16/3/2015, hiện nay cháu A1 và cháu N đang ở cùng chị M. Chị M có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu A1 và cháu N, chị M không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi cháu A1 và cháu N. Anh C cũng có nguyện vọng giao cháu A1 và cháu N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi cháu A1 và cháu N, vì hiện nay anh C không có công việc ổn định nên không có đủ điều kiện để nuôi các cháu. HĐXX chấp nhận sự thống nhất thỏa thuận về nuôi con của chị M và anh C, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Chị M, anh C không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị M phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, 82 ; 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 ; khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ; Điểm a, khoản 1 Điều 24 ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Lê Khắc C.
- Về con chung: Giao cháu Lê Khắc Trường A1, sinh ngày 03/02/2010 và cháu Lê An N, sinh ngày 16/3/2015 cho chị Nguyễn Thị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Khắc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản: Anh C chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTU/23 số 0002017 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Đông Sơn; - UBND phường Phú Sơn; - Chi cục Thi hành án Đông Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thị Hà |
Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn