|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA Bản án số: 09/2024/KDTM - ST Ngày: 26/7/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường; ông Vũ Đức Lâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 26/07/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 05/2024/TLST - KDTM ngày 13/03/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST - KDTM ngày 31/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST - KDTM ngày 14/6/2024, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-KDTM ngày 28/6/2024 giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q.
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà C, số D T, P. T, Q. Đ, TP Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hải Đ - Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ ngoại bảng - Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B - Khối Ngân hàng bán lẻ - VIB theo Giấy ủy quyền số: 183807.23 ngày 08/11/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Q.
Người được ủy quyền lại: Ông Hoàng Đức M - Chuyên viên xử lý nợ ngoại bảng trung tâm quản lý nợ KHCN2
Địa chỉ: Số F B, P.Đông Hương, TP ., tỉnh Thanh Hóa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.
Ông Ngô Văn C, sinh năm 1967.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn L1 - sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, Đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/11/2017, bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C và Ngân hàng TMCP Q ký hợp đồng tín dụng số 418CN760HĐTD, với nội dung cụ thể như sau: Hạn mức vay 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Thời gian duy trì hạn mức là 12 tháng kể từ ngày 15/11/2017 đến ngày 14/11/2018. Mục đích vay tiền của ông C bà L là bổ sung vốn kinh doanh hải sản. Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.29%/năm. Lãi suất được điều chỉnh lại 03 tháng/lần bằng lãi suất cơ sở do Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 1.29%/năm, Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi: 10%/năm. Ngoài ra hợp đồng còn có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng số 418CN760HĐTD ngày 10/11/2017, bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C đã dùng các tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản vay cụ thể hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 418CN759HĐTC ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017. Việc thế chấp tài sản của bà L, ông C là tự nguyện, hợp đồng thế chấp được chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Sau khi ký kết, ngân hàng đã thực hiện giải ngân cho bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C đúng theo thỏa thuận tại HĐTD.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ dẫn đến khoản vay bị phát sinh nợ quá hạn kể từ ngày 18/05/2020.
Kể từ khi khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C vẫn không thực hiện.
Tạm tính đến ngày 08/12/2023bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 879.577.712 đồng (T trăm bảy mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm mười hai đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 500.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 4.037.500 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 375.540.212 đồng.
Vì vậy, tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền lại của ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên quan điểm. Đề nghị Tòa án buộc bà L, ông C có nghĩa vụ phải trả cho V1 số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử ngày 26/07/2024. Số tiền mà bà L ông C đã trả cho V1 tính đến ngày 26/07/2024 là 44.607.819₫ trong đó: trả gốc 0đ, lãi đã trả 44.607.819đ; lãi quá hạn đã trả 33.514đ. Số tiền bà L, ông C còn nợ đến ngày xét xử 26/7/2024 là 926.469.909đ, trong đó: nợ gốc: 500.000.000đ; nợ lãi là 4.037.500đ; nợ lãi quá hạn là 422.322.409đ. Buộc bà L, ông C phải trả số tiền này cho V1.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 32, tờ bản đồ số: 05, địa chỉ: Xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 149m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 185717, số vào sổ cấp GCN: CH00125 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 07/11/2017 mang tên ông Ngô Văn C và bà Nguyễn Thị L. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017.
Theo đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ của nguyên đơn đối với các tài sản mà bà L, ông C đã thế chấp tại ngân hàng ngày 10/11/2017, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định thì: Toàn bộ tài sản của bà L, ông C thế chấp ở ngân hàng là quyền sử dụng đất, diện tích 149m², khuôn viên hình thể, tứ cận tiếp giáp còn nguyên vẹn.Tài sản gắn liền với đất: 01 nhà cấp 4, 02 tầng, diện tích sàn và diện tích xây dựng còn nguyên vẹn như thời điểm thế chấp. Tài sản phát sinh: năm 2018, người thân của ông C, bà L anh Đỗ Văn L1) có làm thêm 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm.
Đối với bị đơn: Qua xác minh tại địa phương bà L, ông C không có mặt; theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bà L, ông C, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bà L và ông C vẫn không có mặt để giải quyết vụ án.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Theo biên bản ghi lời khai ngày 08/07/2024 anh Đỗ Văn L1 trình bày: Do ông C, bà Lập đi vắng nên năm 2018 anh có làm thêm 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm. Các tài sản trên là do anh L1 tự làm không liên quan gì đến tài sản thế chấp nên anh L1 sẽ tự tháo gỡ và sẽ thông báo cho ngân hàng V1 và chính quyền địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 180, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 275, Điều 292, Điều 295, Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 1, 4 Điều 8 Nghị Quyết số 01/2019 Nghị Quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q đến ngày xét xử tổng số tiền 926.469.909 đồng (chín trăm hai mươi sáu triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm linh chín đồng) Trong đó: Gốc: 500.000.000đồng, tiền lãi trong hạn trên nợ gốc là 4.037.500 đồng và tiền lãi quá hạn trên nợ gốc là 422.432.409 đồng.
Trường hợp ông C, bà L không thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng thì sẽ tiến hành xử lý tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để trả nợ thì Ngân hàng Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục xử lý tài sản có liên quan của ông C, bà L để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ông C, bà L còn phải chịu tiền lãi trên nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (27/7/2024) cho đến khi trả hết nợ.
Về án phí: Ông C, bà L phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch.
Đối với phần tài sản anh L1 làm thêm trên phần tài sản không liên quan đến tài sản được thế chấp tại Ngân hàng của ông C và bà L nên anh L1 có quyền được tháo giỡ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Q và Doanh nghiệp tư nhân N tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh, có mục đích lợi nhuận. Do vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Thị L có trụ sở chính tại xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên theo Điều 39 BLTDS thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã đến tại gia đình để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông C và bà L về việc ngân hàng yêu cầu ông C, bà L phải trả số tiền vay còn nợ lại nhưng ông C, bà L không có mặt tại nhà nên các văn bản được Niêm yết tại địa phương xã Đ. Trong quá trình Tòa án tiến hành hòa giải ông C, bà L vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được, không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Tòa đã tiến hành làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định, trên B1 các số: 25013, 25014, 25016 vào các ngày 04, 05, 06/5/2024; phát trên VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút vào các ngày 07, 08, 09/5/2024. Ngày 14/06/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất ông C, bà L vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227. Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (có đơn xin xét xử vắng mặt) và vắng mặt ông C, bà L (không có lý do), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn L1 (đề nghị xét xử vắng mặt) nên HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
- [2] Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh T1 - Phòng G ký kết với bà Nguyễn Thị L - Chủ Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C( thành viên) hợp đồng tín dụng: Số 418CN760HĐTD ngày 10/11/2017; giải ngân theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 418CN760KUNN ngày 14/11/2017 đúng với chức năng hoạt động của Ngân hàng, các bên ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không khiếu nại nội dung của hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng tín dụng nói trên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thi hành, hết thời hạn bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết.
-
[3] Về lãi suất: Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9,29%/năm. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 1,29%/năm. Trong trường hợp ngày xem xét lãi suất là ngày nghỉ hoặc ngày lễ theo quy định pháp luật Việt Nam và của V1, lãi suất sẽ được VIB xem xét vào ngày làm việc kế tiếp đó và lãi suất mới sẽ có hiệu lực kể từ ngày xem xét lãi suất. Tiền lãi sẽ được cộng dồn hàng ngày trên dư nợ thực tế, dựa trên cơ sở số ngày duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó và một năm có 360 ngày; phương thức hoàn trả khoản vay gốc: Cuối kỳ; phương thức hoàn trả lãi: Hàng tháng; phương thức trả phí: Theo quy định tại biểu thức của V1 từng thời kỳ, lãi suất quá hạn :150%; lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi chậm trả lãi: 10%/năm.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định thì thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn giữa các bên là phù hợp, ngân hàng yêu cầu bên vay trả các khoản lãi từ ngày bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ được chấp nhận.
-
[4] Trên cơ sở của HĐTD: Tính đến ngày 26/07/2024, ông C, bà L còn nợ VIB số tiền cả gốc và lãi là 926.469.909đ. Trong đó nợ gốc là 500.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 4.037.500đ; nợ lãi quá hạn 422.432.409.đ.
Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bên cho vay khởi kiện yêu cầu bên vay phải trả nợ là có căn cứ, phù hợp Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 95 luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận, kể từ ngày 27/7/2024 bên vay còn phải chịu lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng (cho vay tiêu dùng) số: 418CN760HĐTD ngày 10/11/2017 mà hai bên đã ký kết.
-
[5] Tài sản thế chấp: HĐ thế chấp quyền sử dụng đất số 418CN759HĐTC ngày 10/11/2017 và tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017. Việc thế chấp tài sản của bà Nguyễn Thị L - chủ doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Thị L và các bên liên quan là tự nguyện, nội dung HĐ các bên không có tranh chấp, HĐ thế chấp được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Do bên thế chấp tài sản vi phạm nghĩa vụ trả nợ, theo quy định tại điều 299 Bộ luật dân sự bên nhận thế chấp có quyền xử lý các tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
Theo đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ của nguyên đơn đối với tài sản mà bà L, ông C đã thế chấp tại ngân hàng V1 ngày 10/11/2017. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì toàn bộ tài sản ông C, bà L đã thế chấp ở ngân hàng thì: Toàn bộ quyền sử dụng đất, diện tích 149m², khuôn viên hình thể, tứ cận tiếp giáp còn nguyên vẹn.Tài sản gắn liền với đất: 01 nhà cấp 4, 02 tầng, diện tích sàn và diện tích xây dựng còn nguyên vẹn như thời điểm thế chấp. Tài sản phát sinh: năm 2018, người thân của ông C, bà L (anh Đỗ Văn L1) có làm thêm 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm. HĐXX ghi nhận ý kiến của anh L1: Do tài sản anh tự làm nên nếu phải xử lý tài sản thế chấp của ông C và bà L thì anh L1 tự tháo gỡ và sẽ thông báo với ngân hàng V1 hoặc chính quyền địa phương.
- [6]Về nghĩa vụ chậm thi hành án: HĐXX xét thấy tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ số 08/2016/AL. Vì vậy, cần áp dụng án lệ số 08/2016/AL để xác định nghĩa vụ chậm thi hành án.
- [7]Về án phí: Do bà L, ông C phải trả toàn bộ số tiền mà ngân hàng V1 yêu cầu nên phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Ngân hàng V1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 299; Điều 351; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; án lệ số 08/2016/AL; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 3 Điều 147; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
-
Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1): Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C - chủ doanh nghiệp tư nhân N1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1) theo hợp đồng tín dụng số: 418CN760HĐTD ngày 10/11/2017, tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/7/2024 là 926.469.909₫ Trong đó nợ gốc là 500.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 4.037.500đ; nợ lãi quá hạn là 422.432.409₫.
- - Kể từ ngày tiếp theo của ngày ra bản án, ông C, bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các HĐ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất của bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C – chủ doanh nghiệp tư nhân N1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
-
Xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C – chủ doanh nghiệp tư nhân N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 32, tờ bản đồ số: 05, địa chỉ: Xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 149m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 185717, số vào sổ cấp GCN: CH00125 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 07/11/2017 mang tên ông Ngô Văn C và bà Nguyễn Thị L. Tài sản gắn liền với đất 01 (không một) nhà cấp 4, 02 tầng, diện tích xây dựng 80m², diện tích sàn 130m²; kết cấu: tường xây gạch, khung cột bê tông chịu lực, mái bê tông cốt thép. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017.
- Trường hợp phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ, thì bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C - chủ doanh nghiệp tư nhân N1 có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc trả các khoản tiền nợ gốc và lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất xong các khoản nợ cho ngân hàng V1.
- - Anh Đỗ Văn L1 tự tháo gỡ 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm.
-
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C- chủ doanh nghiệp tư nhân N1 phải chịu 39.794.098đ (Ba mươi chín triệu bảy trăm chín mươi bốn nghìn không trăm chín mươi tám đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền đã nộp tạm ứng án phí là: 19.194.000đ (Mười chín triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003207 ngày 12 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tạ Văn Tuyển |
Bản án số 09/2024/KDTM - ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
