|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 26/4/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Hà Đức Trưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với Bị cáo:
Bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Đình Q (tên gọi khác: Không);
Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1995; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Hộ khẩu thường trú, chỗ ở (nơi cư trú): Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mường;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Hoàng Phúc Q1 (đã chết); con bà: Hà Thị M, sinh năm 1976;
Vợ, con: Chưa;
Tiền án/tiền sự: Không
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).
Người bào chữa cho Bị cáo Q: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (vắng mặt).
Bị hại: Anh Hà Văn T, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Triệu Văn T1, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
Anh Hoàng Đức C1, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Khu Ú, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
Anh Chảo A C2, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
Bà Hà Thị M, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Khoảng 19 giờ ngày 21/11/2023, Hoàng Đình Q cùng anh Hà Văn T, đến nhà anh Hà Văn H, sinh năm 1986, trú quán tại khu Q, xã T, huyện T chơi và ở lại ăn cơm. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày Q mượn chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA wave màu xanh BKS: 19D1 - 115.16 của anh T lên nhà bạn gái tại khu D, xã T, huyện T chơi.
Do bạn gái không ở nhà nên Q đi về, trên đường Q gặp Triệu Văn T1, cả hai rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi B-a, do không có tiền nên Q nói với T1 là sẽ cầm cố xe máy để chơi. Đồng thời, Q cũng bảo rằng đây là xe thuộc sở hữu của mình nhưng không mang theo đăng ký, T1 gọi điện thoại hỏi xem có ai nhận cầm cố xe không nhưng khi biết xe không có giấy tờ thì không ai dám nhận cầm cố.
T1 rủ Q đi đến khu M, xã T chơi vì quán B2-a ở đó đông khách nên có thể cắm được xe máy. Cả hai thống nhất cùng đến quán của anh Hoàng Đức C1, tại đây Q gặp anh Hà Văn S, sinh năm 1983, trú quán khu M, xã T, Q hỏi anh S và anh C1 có nhận cầm cố xe không có giấy tờ không thì anh C1 từ chối, còn anh S trả lời không có tiền để cầm cố.
Để giúp Q, anh S nhờ Chảo A C2 cắm xe cho Q, C2 hỏi Q về giấy tờ xe, nhưng Q nói dối giấy tờ quên ở nhà. Sau khi C2 được anh S xác nhận Q là người cùng xã nên C2 đồng ý cầm cố.
Lúc này, Q đặt vấn đề muốn cắm lấy số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và thoả thuận Cang chỉ cần đưa cho Q 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn), số tiền còn lại sẽ là tiền lãi, Q hứa đến chiều ngày 22/11/2023 đến lấy xe và trả đủ tiền cho C2. Tin tưởng vào lời nói của Q và biết là người ở cùng xã T nên C2 yêu cầu Q viết “giấy cắm xe” có chữ ký xác nhận của anh Hà Văn S làm căn cứ xác định nguồn gốc xe và ghi lại phương thức liên lạc khi cần C2 sẽ liên hệ.
Sau đó, C2 nhờ anh S điều khiển chiếc xe máy đi về nhà Cang cất, còn Hoàng Đình Q tham gia đánh bạc cùng Triệu Văn T1 dưới hình thức đánh B-a trong đó Q có 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn), T1 có 500.000đ (năm trăm nghìn). Q thua hết nên đã về nhà ở của mình để nghỉ. Đến ngày 26/11/2023, Q có nhắn tin qua Messenger cho anh T với nội dung “Em cắm mất xe anh rồi, anh có tiền không lấy xe về hộ em, em trả anh sau”. Nghi ngờ Q đã chiếm đoạt xe của mình đi cắm lấy tiền tiêu nên ngày 27/11/2023, anh T đến Công an xã T, huyện T trình báo. Vụ việc được Công an xã T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo thẩm quyền.
2. Về các vấn đề khác của vụ án:
Ngày 06/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T có Yêu cầu số: 21/YC – ĐCSHS về việc định giá tài sản. Tại Kết luận số: 24/KL/ĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện T xác định giá của chiếc xe máy hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen, biển số 19D1-115.16 đã qua sử dụng là 6.000.000đ (sáu triệu đồng).
Ngày 13/12/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định Khởi tố vụ án, Khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hoàng Đình Q về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá nêu trên.
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số: 08/CT-VKS- TS ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P đã truy tố Bị cáo Hoàng Đình Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, Khoản 1, Điều 175 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- □ Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 175; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015. Tuyên bố Bị cáo Hoàng Đình Q phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- □ Xử phạt Bị cáo Hoàng Đình Q từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 13 tháng 12 năm 2023);
- □ Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hoàng Đình Q.
- □ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1, Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Xác nhận, ngày 12/12/2023, bà Hà Thị M là mẹ đẻ Hoàng Đình Q đã trả lại cho anh Chảo A C2 số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Anh C2 không có yêu cầu gì khác; bà M cũng không yêu cầu Hoàng Đình Q trả lại số tiền đã bồi thường thay.
- □ Áp dụng Khoản 2, Điều 47 của BLHS năm 2015; Khoản 1, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- □ Xác nhận ngày 26/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Hà Văn T 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu HONDA, số loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, BKS: 19D1 – 115.16, xe đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015773 mang tên Phùng Thị C3 theo quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ – ĐCSHS ngày 26/01/2024.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
4. Người bào chữa cho Bị cáo đề nghị: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho Bị cáo được hưởng mức án theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh B1 hại: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
6. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên toà hôm nay Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, đồng thời phù hợp với lời khai của Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 21/11/2023 tại khu Q, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Hoàng Đình Q, mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển số 19D1-115.16 của anh Hà Văn T để giải quyết việc cá nhân. Sau đó, do không có tiền tiêu sài nên Q dùng thủ đoạn gian dối cầm cố chiếc xe máy nêu trên cho anh Chảo A C2 lấy số tiền là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn) và sử dụng hết số tiền này. Tài sản bị Q chiếm đoạt có giá là 6.000.000đ (sáu triệu đồng).
Bị cáo thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Hoàng Đình Q đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 175 của BLHS năm 2015. Cụ thể:
“Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (...)
b, Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên, hành vi của Bị cáo nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Mặc dù, Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của Bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của Bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã tác động đến gia đình để khắc phục hậu quả. Do đó, Bị cáo được hưởng 03 (ba) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo là mặc dù là ít nghiêm trọng, nhưng vì nhu cầu cá nhân Bị cáo đã bất chấp hậu quả xấu xảy ra, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng. Do vậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn là phù hợp. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân và giá trị tài sản Bị cáo chiếm đoạt để quyết định hình phạt; cho Bị cáo nhận hình phạt theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5, Điều 175 của BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Tại biên bản xác minh ngày 29/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã xác định: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, đang sống cùng với mẹ kế và không có tài sản riêng gì có giá trị, không đảm nhiệm chức vụ gì. Vì vậy, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 26/01/2024, anh Hà Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với Hoàng Đình Q.
Ngày 12/12/2023, bà Hà Thị M là mẹ đẻ Hoàng Đình Q đã trả lại cho anh Chảo A C2 số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Anh C2 không yêu cầu Q phải bồi thường gì khác; bà Hà Thị M không yêu cầu Q phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho Q.
[5] Về xử lý vật chứng: Ngày 26/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Hà Văn T 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu HONDA, số loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, BKS: 19D1 – 115.16, xe đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015773 mang tên Phùng Thị C3, vật chứng được xử lý theo quyết định số: 29/QĐ – ĐCSHS ngày 26/01/2024.
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với hành vi nhận cầm cố tài sản của Chảo A C2: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T xác định chưa đủ yếu tố cấu thành tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đồng thời, ngày 27/02/2024, Công an huyện T đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 32/QĐ – XPHC về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản” đối với C2 là phù hợp.
Đối với anh Hoàng Đức C1: Anh C1 không biết việc Q và T1 đánh B - a ăn tiền nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét hành vi này. Tuy nhiên, cơ sở kinh doanh của C1 thuộc loại hình kinh doanh dịch vụ có điều kiện, nhưng C1 không có giấy phép kinh doanh. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã chuyển tài liệu đến Công an huyện T xử lý theo quy định là phù hợp.
Đối với hành vi đánh bạc của Hoàng Đình Q và Triệu Văn T1: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định chưa đủ yếu tố cấu thành tội danh đánh bạc. Vì vậy, ngày 27/02/2024, Công an huyện T đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 30, 31/QĐ - XPHC đối với Hoàng Đình Q và Triệu Văn T1 là phù hợp.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa và đề nghị của Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại thông qua các văn bản gửi đến phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận;
[8] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm;
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1, Điều 175; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015;
Tuyên bố Bị cáo Hoàng Đình Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Xử phạt Bị cáo Hoàng Đình Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 13 tháng 12 năm 2023).
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hoàng Đình Q.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1, Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự.
Xác nhận, ngày 12/12/2023, bà Hà Thị M là mẹ đẻ Hoàng Đình Q đã trả lại cho anh Chảo A C2 số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng), anh C2 không yêu cầu Q phải bồi thường gì khác; bà Hà Thị M không yêu cầu Q phải trả lại số tiền đã bồi thường thay cho Q.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2, Điều 47 của BLHS năm 2015; Khoản 1, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xác nhận ngày 26/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Hà Văn T 01 (một) chiếc xe nhãn hiệu HONDA, số loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, BKS: 19D1 – 115.16, xe đã qua sử dụng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015773 mang tên Phùng Thị C3, vật chứng được xử lý theo quyết định số: 29/QĐ – ĐCSHS ngày 26/01/2024.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Hoàng Đình Q.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tân Khải Nhân |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đình Q phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khoarn 1 điều 175 BLHS
