Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÈO VẠC

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày 25/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Củng Trấn Lương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thặng
Bà Thào Thị Thu Nga

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Vàng Mí Chứ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 11/6/2024 đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn T; (tên gọi khác: Không có); sinh năm 1984; tại huyện Y, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 23/4/2023, nơi cấp: Cục C2 về TTXH; nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Nơi ở hiện nay: Tổ B thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1964 và bà Mai Thị U, sinh năm 1966; Vợ: Lò Thị H, sinh năm 1986 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Nguyễn Văn K; (tên gọi khác: Không có); sinh năm 1988; tại huyện Y, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 12/7/2021, nơi cấp: Cục C2 về TTXH; HKTT: Thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện nay: Thôn S, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Chu Thị L, sinh năm 1967; Vợ: Lý Thị T1, sinh năm 1992 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Ông Nguyễn Xuân GTrung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Vắng mặt có lí do, gửi bản luận cứ.
  • - Những người làm chứng: Lù A V, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn B. Vắng mặt không có lý do.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Chu Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 00 phút, ngày 22/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện M tiếp nhận tố giác về tội phạm qua điện thoại của một công dân (vì lý do cá nhân nên người này không cung cấp họ tên, tuổi, địa chỉ) về việc: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 22/12/2023 phát hiện Nguyễn Văn K, đang điều khiển xe máy theo hướng từ xã P đi thị trấn M, đối tượng có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngay sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện MCông an xã P tiến hành kiểm tra, xác minh. Đến hồi 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi tổ công tác tuần tra, kiểm soát đến đoạn đường K, quốc lộ D thuộc địa phận thôn M, xã P (phía dưới quán C3) thì phát hiện Nguyễn Văn K đang điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Winner X, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 23B1-711.42 theo hướng đường từ xã P đi thị trấn M, tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Tại thời điểm dừng xe, Nguyễn Văn K đã thả từ tay phải xuống mặt đường ngay vị trí Kiệm đứng 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng (loại giấy mềm) có kích thước to bằng đầu ngón tay cái người lớn, tiến hành mở gói giấy bên trong có 02 (hai) gói giấy nhỏ đều có kích thước (0,8 x 03) cm, trong đó: Có 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng, trên bề mặt có chữ viết màu đen, gói giấy còn lại trên bề mặt chỉ có màu trắng. Mở 02 (hai) gói giấy nhỏ nêu trên bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy heroin). Tiến hành kiểm tra người Nguyễn Văn K, tổ công tác phát hiện tại túi áo khoác phía bên trái mà K đang mặc có 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng (loại giấy mềm) có kích thước to bằng đầu ngón tay cái người lớn, tiến hành mở gói giấy, bên trong có 07 (bảy) gói giấy nhỏ màu trắng đều có kích thước, đặc điểm tương đồng với 02 (hai) gói giấy nhỏ mà K thả dưới mặt đường. Tiến hành mở lần lượt 07 (bảy) gói giấy nhỏ nêu trên bên trong các gói giấy nhỏ này đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy heroin). Tiếp tục kiểm tra người Nguyễn Văn K phát hiện: Tại túi quần bò phía trước bên phải mà K đang mặc có 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, vỏ màu đen và có chữ VSMART; tại túi quần bò phía sau bên phải có số tiền 100.000 đồng. Tiến hành kiểm tra phương tiện của Nguyễn Văn K không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì. Nguyễn Văn K khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bên trong 09 (chín) gói giấy nhỏ nêu trên đều là ma túy loại heroin do Nguyễn Văn T nhờ K đem đi giao bán cho

hai người đàn ông tên H1B, hiện T đang ở tại ngôi nhà gần công trình xây dựng hồ treo. Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn K. Để phục vụ cho công tác điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại ngôi nhà gần công trình xây dựng hồ treo thuộc thôn S, xã P, huyện M. Trước khi tiến hành khám xét khẩn cấp:

Nguyễn Văn T đã tự nguyện giao nộp: 01 (một) gói giấy màu trắng, kích thước (05 x 2,5 x 0,5) cm. Bên trong chứa 08 (tám) gói giấy nhỏ màu trắng trên bề mặt có chữ màu đen, có đặc điểm, kích thước tương đồng nhau (3 x 01) cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy heroin). Theo Nguyễn Văn T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bên trong 08 (tám) gói giấy nhỏ nêu trên đều là ma túy, loại heroin do T mua về để sử dụng dần, nếu ai mua thì T sẽ bán để kiếm lời.

Ngoài ra, Nguyễn Đình T2 đã tự nguyện giao nộp: 01 (một) chiếc xi lanh gắn kim tiêm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc phong bì thư màu trắng được gập lại, kích thước (11 x 7,5) cm, bên trong phong bì thư có 01 (một) gói giấy màu trắng, kích thước (4,5 x 3,2) cm, bên trong gói giấy này có 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng, đều có kích thước (03 x 01) cm, mở 02 (hai) gói giấy nhỏ này bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy heroin). Theo Nguyễn Đình T2 khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bên trong 02 (hai) gói giấy nhỏ nêu trên đều là ma túy loại heroin do T2 đã mua của Nguyễn Văn T vào đêm ngày 21/12/2023;

Ngày 23/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành kiểm tra, xét nghiệm tình trạng ma túy đối với Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K, Nguyễn Đình T2, Lù A. Tại thời điểm kiểm tra, xét nghiệm nước tiểu của các đối tượng đều cho kết quả dương tính với nhóm M (MOP). Âm tính với các nhóm THC, MET, MDMA.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành cân tịnh và trích mẫu vật gửi giám định số tang vật nghi là ma túy Heroin đã phát hiện, thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K và số tang vật nghi là ma túy Heroin do Nguyễn Văn TNguyễn Đình T2 tự nguyện giao nộp. Kết quả:

  • + Tổng khối lượng số chất bột màu trắng trong 08 (tám) gói giấy nhỏ do Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp là 0,522gam (không phẩy năm trăm hai mươi hai gam). Ký hiệu từ A1 đến A8.
  • + Tổng khối lượng số chất bột màu trắng trong 02 (hai) gói giấy nhỏ do Nguyễn Đình T2 tự nguyện giao nộp là 0,09gam (không phẩy không chín gam). Ký hiệu A9, A10.
  • + Tổng khối lượng số chất bột màu trắng trong 09 (chín) gói giấy nhỏ phát hiện, thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K là 0,602gam (không phẩy sáu trăm linh hai gam). Ký hiệu từ A11 đến A19.

Tại bản kết luận giám định số 24/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: “08 (tám) mẫu chất bột màu trắng ký hiệu lần lượt từ A1 đến A8 đều là ma túy, loại H (H), có tổng khối lượng là 0,522g (không phẩy năm trăm hai mươi hai gam); 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng ký hiệu A9, A10 đều là ma túy, loại Heroin (H), có tổng khối lượng là 0,09g (không phẩy không chín gam); 09

(chín) mẫu chất bột màu trắng ký hiệu lần lượt từ A11 đến A19 đều là ma túy, loại H (H), có tổng khối lượng là 0,602g (không phẩy sáu trăm linh hai gam). Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K đã thành khẩn khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý như sau:

Vào khoảng đầu tháng 12 năm 2023, Nguyễn Văn T thuê nhân công, máy xúc để thi công công trình xây dựng hồ treo tại thôn S, xã P, huyện M. Sau đó, T thuê một ngôi nhà cấp bốn cách công trình 50m để ở, sinh hoạt và để dụng cụ, máy móc trong thời gian thi công xây dựng công trình. Khoảng 14 giờ ngày 13/12/2023, Nguyễn Văn T đi sang các cửa hàng bán vật liệu xây dựng tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mua dụng cụ (búa, cuốc, xẻng, bàn xoa...) về để phục vụ cho việc xây dựng công trình hồ treo. Trên đường về, khi T đi qua chợ huyện Đ thì gặp một người đàn ông khoảng 60 tuổi, thân hình gầy, làn da đen, nhìn người này có biểu hiện bên ngoài giống như người nghiện ma túy nên T đã dừng xe lại nói chuyện làm quen. Quá trình nói chuyện T nói cho người này biết mình là người nghiện ma túy heroin nhưng không biết mua ma túy ở đâu về sử dụng, lúc này người đàn ông cũng nói cho T biết người đàn ông này cũng là người nghiện ma túy, tuy nhiên người đàn ông này không đem theo ma túy trên người. Sau đó người đàn ông này đọc số điện thoại 0342.626.xxx của mình cho T để T lưu và người đàn ông này nói tiếp với T khi nào có nhu cầu mua ma túy thì đi đến ngã ba xã S, huyện Đ rồi gọi vào số điện thoại trên, người đàn ông này sẽ bán cho, nghe người đàn ông này nói vậy thì T đồng ý.Đến khoảng 12 giờ ngày 14/12/2023, T sử dụng số điện thoại của mình là 0869.543.xxx gọi cho người đàn ông theo số điện thoại đã cho trên để đặt vấn đề mua 300.000 đồng tiền ma túy thì người đàn ông này đồng ý và hẹn T khoảng 20 giờ cùng ngày đi đến ngã ba xã S, huyện Đ để lấy ma tuý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T một mình điều khiển chiếc xe máy của T (nhãn hiệu DRAGON, màu sơn nâu, yếm trắng, biển kiểm soát 23H3-3818) đi từ công trình thôn S, xã P, huyện M đến ngã ba xã S, huyện Đ. Sau khi đến nơi T dừng xe cạnh ven đường rồi gọi điện thoại báo cho người đàn ông trên là đã đến ngã ba S. Được khoảng 10 phút sau, người đàn ông trên đi bộ theo hướng đường từ khu D đi ra gặp T. Khi gặp nhau người này đưa cho T 01 (một) gói nilon có kích thước to bằng hạt ngô và nói 300.000 đồng. Nghe thấy vậy, T đưa cho người đàn ông này số tiền 300.000 đồng. Sau đó, T cất gói ma túy vào trong túi áo khoác của mình rồi điều khiển xe máy đi về ngôi nhà do T thuê ở gần công trình. Tại đây, do thèm ma túy nên T đã đi ra phía sau nhà trích một ít bột ma túy ra để sử dụng một mình bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy xong T gói gói ma túy lại như cũ rồi cất giấu cạnh giường ngủ của mình, sau đó T đi ngủ. Trong ngày 15/12/2023, T đã lấy số ma túy trên ra sử dụng 03 (ba) lần vào thời gian sáng, trưa, tối bằng hình thức hít ngay tại chiếc giường ngủ của mình (khi không có công nhân ở nhà) và phía sau nhà (khi có công nhân ở nhà).

Vào sáng ngày 16/12/2023, quá trình làm việc tại công trình, Lù ANguyễn Văn K nói cho T biết việc hai người này biết T sử dụng trái phép chất ma túy, do làm việc mệt mỏi nên VK đặt vấn đề với T cũng muốn sử dụng ma túy nếu không có ma túy thì không làm được việc. Do bản thân là người nghiện ma túy, thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng, trước đó Nguyễn Văn B (TB quen biết với nhau khi T đi chơi tại Bến Thuyền N I từ khoảng cuối tháng 11/2023, tuy nhiên T lại nhớ nhầm người này tên là B1) cũng nhiều lần gọi điện thoại hỏi T mua ma túy nên lúc này T đã nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại cho V, K, B để kiếm lời. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, trong lúc T đang nghỉ ngơi tại giường ngủ của mình (trong ngôi nhà T thuê gần công trình) thì người đàn ông trên gọi điện thoại cho T bằng một số điện thoại khác là 0365.108.xxx rồi hỏi T còn mua ma túy không, nếu mua thì người này sẽ bớt cho T với số ma túy tương ứng số tiền là một triệu đồng. Do số ma túy mà trước đó T mua của người đàn ông trên vào ngày 14/12/2023 đã sử dụng hết, cùng với việc V, K, B đặt vấn đề mua ma túy từ T nên T đã đồng ý mua ma túy của người đàn ông trên. Sau đó người đàn ông này tiếp tục hẹn T đi đến ngã ba xã S, huyện Đ để mua bán ma túy. Sau khi thống nhất, T một mình điều khiển chiếc xe máy của mình (có đặc điểm nêu trên) từ công trình đi đến ngã ba xã S, huyện Đ. Sau khi đến nơi, T gọi điện thoại cho người đàn ông trên thì người này bảo T đứng đợi. Được khoảng 05 phút sau người đàn ông trên đi bộ theo hướng từ khu du lịch Nhà V1 đi ra gặp T. Khi gặp nhau, người này đưa cho T 01 (một) gói nilon có kích thước to bằng đầu ngón tay cái người lớn và nói 1.000.000 đồng, T cầm lấy gói ma túy rồi đưa cho người đàn ông trên số tiền 1.000.000 đồng (gồm 02 tờ tiền loại mệnh giá 500.000 đồng). Sau khi mua được số ma túy trên, T cất gói ma túy vào trong túi áo khoác rồi điều khiển xe máy đi về ngôi nhà thuê ở gần công trình và đi ngủ.

Đến khoảng 09 giờ ngày 17/12/2023, sau khi T ngủ dậy thì VK đã đi làm việc, lúc này chỉ còn một mình T ở nhà nên T đã lấy một tờ giấy A4 từ tập hồ sơ công trình rồi dùng kéo cắt thành nhiều mảnh giấy nhỏ có kích thước tương đồng nhau với mục đích để chia số ma túy mà T đã mua được từ tối ngày 16/12/2023 thành nhiều tép nhỏ khác nhau vừa để sử dụng cho bản thân, vừa bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời. Sau đó, T chia gói ma túy trên thành 15 (mười lăm) tép ma túy có kích thước tương đồng nhau. Sau khi chia ma túy xong, T sử dụng 01 (một) tép bằng hình thức hít ngay tại vị trí giường ngủ của mình. Số ma túy còn lại T cất giấu trong túi áo khoác của T đang mặc, còn mảnh nilon gói ma túy và các mảnh giấy thừa còn lại T cho vào bếp lửa cạnh giường ngủ của mình đốt hết rồi đi ra làm việc với mọi người.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, trên đường đi làm về V hỏi T mua 01 (một) tép ma túy thì T đồng ý, sau đó T lấy từ túi áo khoác của mình ra 01 (một) tép ma túy bán cho V với giá 300.000 đồng, tuy nhiên V không có tiền trả T mà bảo T sẽ trừ vào tiền công của V thì T đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, V đi làm việc trước, trong nhà chỉ có TK, lúc này K đi đến vị trí gần giường ngủ của T rồi hỏi T mua 01 (một) tép ma túy thì T đồng ý, sau đó T bán 01 (một) tép ma túy cho K với giá 300.000 đồng, K cầm lấy gói ma túy, do chưa có tiền trả nên K cũng bảo với T sẽ trừ vào tiền công của K thì T đồng ý. Sau khi bán ma túy cho K xong, TK cùng đi làm việc tại công trình. Đến tối cùng ngày, T thèm sử dụng ma túy nhưng trong nhà có người nên T cầm 01 (một) tép ma túy ra phía sau nhà để sử dụng một mình bằng hình thức hít, sau khi sử dụng ma túy xong T quay lại vào nhà rồi đi ngủ. Trong ngày 18, 19 và 20/12/2023 mỗi ngày T đều sử dụng 03 (ba) lần,

mỗi lần 01 (một) tép vào thời gian sáng, trưa, tối, những lần sử dụng ma túy T đều sử dụng một mình bằng hình thức hít ngay tại giường ngủ của mình (khi không có công nhân ở nhà) hoặc phía sau nhà (khi có công nhân ở nhà).

Đối với Nguyễn Văn KLù A V, sau khi mua được ma túy của T, sau mỗi buổi làm việc, KV đều đem gói ma túy của mình ra phía sau nhà rồi trích một ít bột ma túy ra để sử dụng một mình bằng hình thức hít, số ma túy còn lại K và Văn gói lại để sử dụng dần, đến ngày 21/12/2023 thì KV sử dụng hết số ma túy trên.

Đến chiều ngày 21/12/2023, Nguyễn Đình T2 đến công trình làm việc và ở cùng T, K, V (vào đầu tháng 12/2023, khi T nhận công trình xây dựng hồ treo thì T có gọi điện rủ T2 đến làm việc cho T). Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi đi làm về T kiểm tra điện thoại thì thấy có cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại (0365.108.xxx) của người đàn ông đã bán ma túy cho T tối ngày 16/12/2023. Thấy vậy, T đã gọi lại cho người này thì người này nói cho T biết người này vừa mua được ma túy nếu T muốn mua thì đi sang ngã ba xã S, huyện Đ người này sẽ bán cho. Do số ma túy trước đó T mua của người đàn ông trên vào ngày 16/12/2023 chỉ còn lại 02 (hai) tép nên T đã nói với người đàn ông trên chuẩn bị ma túy heroin bán cho mình với số tiền 1.200.000 đồng thì người này đồng ý. Sau đó, T một mình điều khiển chiếc xe máy của mình (có đặc điểm nêu trên) từ công trình đi đến ngã ba xã S, huyện Đ. Sau khi đến nơi T gọi điện thoại thông báo cho người đàn ông trên. Được khoảng 30 phút sau người đàn ông trên đi bộ theo hướng đường từ khu D đi ra gặp T. Sau khi gặp nhau người này đưa cho T 01 (một) gói nilon màu trắng có kích thước to bằng đầu ngón tay cái người lớn, T cầm lấy gói ma túy cho vào túi áo khoác của mình rồi đưa cho người đàn ông này số tiền 1.200.000 đồng (gồm 06 tờ tiền loại mệnh giá 200.000 đồng). Sau khi mua được số ma túy trên, T điều khiển xe máy đi về ngôi nhà đã thuê ở gần công trình, còn người đàn ông trên đi đâu thì T không biết.

Cũng vào thời điểm này, Nguyễn Văn H1 (H1K, T có mối quan hệ quen biết từ trước) gọi điện thoại cho K hỏi mua ma túy về sử dụng nhưng K nói K không có, sau đó H1 nhờ K hỏi mua ma túy từ T. Tuy nhiên, vào thời điểm này T không ở nhà nên K đã nói với H1 để mai Kiệm hỏi T xem còn ma túy không, nếu còn thì K sẽ thông báo sau rồi tắt máy.

Đối với Nguyễn Văn T, sau khi về đến gần công trình, T dừng xe cạnh ven đường rồi lấy 01 (một) tép ma túy mà T đã chia nhỏ từ sáng ngày 17/12/2023 đem ra sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma tuý xong T đi về ngôi nhà gần công trình để ngủ. Trong lúc T đang chuẩn bị ngủ thì T2 đi đến vị trí gần giường của T và đặt vấn đề mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, tuy nhiên do chưa có tiền trả nên T2 bảo T sẽ trừ số tiền này vào tiền công của mình (vào chiều ngày 21/12/2023 khi Tuy đến làm việc tại công trình thì VK kể cho T2 biết việc T có ma túy heroin bán) thì T đồng ý. Sau đó, T tìm trong túi áo khoác của mình thì thấy chỉ còn 01 (một) tép ma túy mà trước đó T đã chia nhỏ vào sáng ngày 17/12/2023 nên T đã bán tép ma túy này cho T2, sau khi bán ma túy cho T2 thì T đi ngủ. Còn Nguyễn Đình T2, sau khi mua được tép ma túy trên, T2 thấy một mảnh giấy nhỏ trên giường ngủ của T, lúc này T2 nảy sinh ý định chia tép ma túy vừa mua được của T thành 02 (hai) tép nhỏ khác nhau để tiện sử dụng nên T2 đã cầm mảnh giấy nhỏ trên đi về vị trí giường ngủ của mình rồi chia tép ma túy thành

hai tép nhỏ có kích thước tương đồng nhau, tiếp đó T2 sử dụng một mảnh giấy khác gói 02 (hai) tép ma túy này lại thành một gói rồi cho vào trong một chiếc phong bì thư và cất giấu trong túi đựng quần áo của mình, sau đó T2 đi ngủ. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, sau khi ngủ dậy Tuy thèm sử dụng ma túy, do trong nhà có nhiều người nên T2 đã lấy 01 (một) tép ma túy ở trong túi đựng quần áo đi ra tảng đá phía sau nhà trích ra một phần nhỏ sử dụng một mình bằng hình thức hít, phần còn lại Tuy gói lại như cũ rồi tiếp tục để vào trong phong bì thư cất giấu ở trong túi đựng quần áo của mình.

Đến khoảng 08 giờ ngày 22/12/2023 T thức dậy, lúc này K, V, T2 đã đi làm, trong nhà chỉ còn một mình T nên T đã lấy gói ma túy mà T mua được từ tối hôm 21/12/2023 đem ra để chia nhỏ thành nhiều tép khác nhau với mục đích để thuận tiện cho việc sử dụng và bán kiếm lời. Lúc này, T mở gói nilon ra thì thấy bên trong chứa chất ma túy heroin màu trắng dạng cục. Thấy vậy, T sử dụng một mảnh nilon trong suốt khác lấy tại vị trí gần bếp lửa cuốn cục ma túy thành hai lớp túi nilon, tiếp đó T lấy mảnh gỗ ở bếp lửa đập cục ma túy thành bột mịn. Sau đó T lấy một tờ giấy A4 từ tập hồ sơ công trình rồi dùng chiếc kéo có phần tay cầm bằng nhựa màu hồng cắt tờ giấy trên thành nhiều mảnh giấy nhỏ có kích thước, đặc điểm tương đồng nhau, tiếp đó T sử dụng một mảnh giấy nhỏ xúc chia đều số bột ma túy trên thành 18 (mười tám) tép ma túy có kích thước tương đồng nhau. Sau khi chia ma túy xong, T lấy 01 (một) tép ma túy ra sử dụng ngay tại vị trí gần bếp lửa, 17 (mười bảy) tép ma túy còn lại T cho vào một tờ giấy A4 rồi gói lại và để trên đầu giường ngủ của mình, các mảnh giấy thừa và hai mảnh túi nilon trước đó T dùng để bọc gói ma túy thì T để phía dưới đệm tại giường ngủ của T. Sau đó T đi làm việc cùng với V, T2K.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc T đang làm việc ở công trình thì B gọi điện thoại cho T hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy thì T đồng ý và hẹn khoảng 12 giờ cùng ngày sẽ mua bán ma túy tại ngã ba P (một hướng đi thị trấn Đ, một hướng đi thị trấn M, hướng còn lại đi bến thuyền Nho Quế I). Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, trong lúc đang làm việc thì K nhớ vào tối hôm 21/12/2023, H1 có nhờ mình hỏi mua ma túy từ T nên K đã hỏi T. Nghe K nói vậy thì T trả lời “còn”. Kiệm hỏi T: “anh còn ma túy không, có thằng H1 nhà ở M đặt vấn đề mua mấy con”, nghe vậy T trả lời: “còn”. Sau đó, K gọi điện thông báo cho H1 biết T còn ma túy để bán, đồng thời K hỏi H1 mua bao nhiêu thì H1 trả lời mua với số tiền 500.000 đồng nên K nói lại với T: “Thằng H1 nó bảo lấy năm trăm” thì T đồng ý. Do đang làm việc nên K nói với H1: “có gì đến trưa tôi gọi lại sau” rồi tắt máy.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, trong lúc K đang ngồi tại bàn uống nước (TV đã đi ngủ) thì T gọi K đi sang vị trí gần giường ngủ của T, sau đó T đưa cho K 02 (hai) gói ma túy được bọc bằng giấy vệ sinh màu trắng và nói “mày cầm hàng đưa cho khách hộ anh, hai con bọc nhỏ thì đưa cho thằng H1, còn bảy con bọc to thì đưa cho anh B1 đang đi từ N lên”, tiếp đó T nói “mày đi giao hàng hộ anh khi nào quay về anh cho mày dùng hàng của anh, anh không lấy tiền”. Nghe T nói vậy thì K đồng ý rồi cầm hai gói ma túy từ T, sau đó T đọc số điện thoại của B (Biển) cho K, K lưu số điện thoại của B vào trong danh bạ là “biển”. T còn nhắc K “cái đồ này đi đường phải để trên tay, nhỡ xảy ra chuyện gì thì vứt đi luôn”, do

gói ma túy của B to hơn gói ma túy của H1 nên K đã cho gói ma túy của B vào túi áo khoác phía bên trái mà K đang mặc còn gói ma túy của H1 thì K cầm trong lòng bàn tay phải. Trước khi đi giao bán ma tuý hộ cho T, K gọi điện cho H1 “cứ đi theo đường từ Mèo Vạc sang Đ, gặp ở đâu thì giao ở đấy”. Sau đó K một mình điều khiển chiếc xe máy (loại xe Winner X, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 23B1-711.42) của K từ công trình đi theo đường liên thôn hướng ra đường Q rồi đi về hướng thị trấn M, khi đang trên đường đi giao bán ma túy K gọi điện thoại cho B và hỏi “anh lên đến đâu rồi”, B trả lời “anh đang lên”, nghe B nói vậy thì K tắt máy, ngoài ra B còn gọi điện thoại cho K và hỏi “đến đâu rồi, gặp nhau ở ngã ba P nhé”, K trả lời “ở ngã Pả V2 thì sợ muộn, sang bên đường Đ đi”, B nói tiếp “thế thì gặp nhau ở đoạn đường qua quán C4”, nghe B nói vậy thì K đồng ý. Khi K đi đến đoạn đường K quốc lộ D (phía dưới quán C3) thì gặp tổ công tác Công an huyện M đang làm nhiệm vụ. Qua kiểm tra, phát hiện số ma tuý trên người của K.

Ngày 24/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Hà Giang ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đến ngày 30/12/2023 ra quyết định khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS 2015; đối với bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS 2015.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSMV ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 (T3) năm đến 09 (C1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (Ngày 22/12/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 (Hai năm) 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (Ngày 22/12/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử lí vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí HSST cho các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T.

Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K:

Về tội danh: Đồng thuận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về tội danh: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 38; Điều 57 và Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 3 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn K.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, cũng như lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn K nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho mình.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt những người làm chứng Lù A V, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn B, tuy nhiên đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc làm sáng tỏ vụ án. Việc vắng mặt người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K có lý do chính đáng, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K nhất trí tiếp tục xét xử vụ án. Căn cứ Điều 291, 293 của BLTTHS HĐXX quyết định tiếp tục giải quyết vụ án

[3] Về tội danh: Các bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ con người và xã hội. Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Với mục đích vừa mua ma túy về để hút vừa bán để thu lợi bất chính, nên vào khoảng 11 giờ ngày 17/11/2023 trên đường đi làm từ khu vực xây dựng hồ treo về nhà do bị cáo T thuê tại thôn S, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang bị cáo Nguyễn Văn T bán ma túy cho Lù A V 01 tép với giá 300.000 đồng, đến khoảng 14 giờ cùng ngày tại khu vực giường ngủ của mình, bị cáo T bán cho Nguyễn Văn K 01 tép với giá 300.000 đồng; khoảng 22 giờ ngày 21/12/2023 bị cáo T bán cho Nguyễn Đình T2 01 tép với giá 300.000 đồng; khoảng 12 giờ ngày 22/12/2023 bị cáo T giao cho bị cáo K mang ma túy bán cho

Nguyễn Văn H1 02 tép với giá 500.000 đồng và bán cho Nguyễn Văn B 07 tép với giá 2.000.000 đồng, tuy nhiên chưa giao bán được cho H1B thì K đã bị bắt, khối lượng ma túy thu giữ trên người bị cáo K là 0,602g. Sau khi bị phát hiện bị cáo T tự nguyện giao nộp 08 tép ma túy có khối lượng 0,522g mục đích để bản thân sử dụng và ai có nhu cầu mua sẽ bán. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a. ...

b. Phạm tội 02 lần trở lên

...”

[4] Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Nguyễn Văn K về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Đối với luận cứ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K về tội danh là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Đối với phần hình phạt người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng thêm Điều 15, Điều 57 của BLHS 2015, HĐXX xét thấy đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy có cấu thành hình thức, bị cáo đã đồng ý và nhận ma túy từ T để mang đi giao bán là đã cấu thành tội phạm. Do vậy HĐXX không áp dụng Điều 15 và Điều 57 của BLHS 2015.

[6] Vai trò, vị trí của các bị cáo: Xét thấy trong vụ án các bị cáo cùng thực hiện một hành vi phạm tội, tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, không phân công nhiệm vụ cụ thể, chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên khi xem xét hình phạt cần cá thể hóa hình phạt để áp dụng mức hình phạt phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm mà hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra đối với xã hội. Trong vụ án này bị cáo T giữ vai trò chính, bị cáo là người khởi xướng bị cáo đã bán thành công 03 lần cho những đối tượng làm thuê cho bị cáo do vậy áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là phù hợp. Đối với bị cáo K là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/12/2023, tuy nhiên khi chưa thực hiện được hành vi phạm tội thì bị cáo bị bắt do đó không có đủ căn cứ xác định bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần hay phạm tội đối với nhiều người, do vậy áp dụng khoản 1 Điều 251 của BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền về quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy. Heroine là chất ma túy bị nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt. Ma túy không chỉ trực tiếp hủy hoại đến sức khỏe, nhân cách của người sử dụng, mà còn là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần có

mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[9] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản từ nguồn thu lợi bất chính, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

[11] Xét về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[12] Căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, vị trí, vai trò, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân của các bị cáo. HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như vậy để đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, nên HĐXX áp dụng Điều 38 BLHS đối với các bị cáo.

[13] Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 BLTTHS và Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015:

[13.1] Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen, có chữ VSMART, điện thoại đã qua sử dụng. Vì đây là vật chứng bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
  • + 01 (một) chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại, phần tay cầm bằng nhựa màu đen.
  • + 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu DRAGON, màu sơn trắng, biển kiểm soát 23H3-3818, xe đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu trắng ánh kim, có chữ OPPO và có nhiều vết rạn nứt, điện thoại đã qua sử dụng. Vì đây là vật chứng bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.

[13.2] Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Các vỏ gói giấy và chiếc phong bì niêm phong cũ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Văn T”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M.
  • + 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Các vỏ gói giấy và chiếc phong bì niêm phong cũ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Đình T2”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M.
  • + 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Các vỏ gói giấy và chiếc phong bì niêm phong cũ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Văn K”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của

thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M.

  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu từ A1 đến A19”, mặt sau phong bì phần mép dán chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau phong bì phần mép dán chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) chiếc xi lanh có gắn kim tiêm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại có phần tay cầm bọc nhựa màu hồng.
  • - 01 (một) mảnh gỗ, kích thước (25x14) cm.

Vì các vật chứng là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng.

[13.3] Đối với chiếc chìa khóa xe máy và chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 23B1-711.42; số tiền 100.000 đồng phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Văn K vào ngày 22/12/2023; số tiền 875.000 đồng do Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp vào ngày 22/12/2023. Tại giai đoạn điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên ngày 17/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã ra quyết định xử lý vật chứng số: 105/QĐ-ĐCSHS-KTMT trả lại toàn bộ số đồ vật, tài sản trên. Xét thấy việc trao trả các vật chứng trên là phù hợp với qui định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[14] Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K và đối tượng Nguyễn Đình T2, Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức xử phạt cảnh cáo. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đề cập xem xét.

[15] Hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Lù A V, Nguyễn Văn B Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng, các đối tượng đã nộp số tiền xử phạt vào Kho bạc Nhà nước. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đề cập xem xét.

[16] Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Nguyễn Đình T2, Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 3.500.000 đồng, Nguyễn Đình T2 đã nộp số tiền xử phạt vào Kho bạc Nhà nước. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đề cập xem xét.

[17] Đối với Nguyễn Văn H1 tại giai đoạn điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã phối hợp với Y tế xã P tiến hành kiểm tra, xét nghiệm tình trạng ma túy đối với H1 kết quả cho âm tính. Tuy nhiên hành vi của H1 đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, Cơ quan CSĐT đã nhắc nhở và gửi thông báo đến địa phương nơi H1 sinh sống để có các biện pháp theo dõi, quản lý theo quy định.

[18] Về án phí: Xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ khoản

2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án phí HSST đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K.

[19] Biện pháp tư pháp: Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam để bảo đảm thi hành án, quy định tại khoản 1 Điều 329 BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo:

Nguyễn Văn T 08 (T3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (22/12/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo:

Nguyễn Văn K 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (22/12/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với các bị cáo

3. Vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu đen, có chữ VSMART, điện thoại đã qua sử dụng. Vì đây là vật chứng bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
  • - 01 (một) chiếc chìa khóa xe máy bằng kim loại, phần tay cầm bằng nhựa màu đen.
  • - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu DRAGON, màu sơn trắng, biển kiểm soát 23H3-3818, xe đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu trắng ánh kim, có chữ OPPO và có nhiều vết rạn nứt, điện thoại đã qua sử dụng. Vì đây là vật chứng bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Các vỏ gói giấy và chiếc phong bì niêm phong cũ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Văn T”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M.
  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Các vỏ gói giấy và chiếc phong bì niêm phong cũ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Đình T2”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của

thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M.

  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Các vỏ gói giấy và chiếc phong bì niêm phong cũ phát hiện, tạm giữ của Nguyễn Văn K”, mặt sau phong bì phần mép dán có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M.
  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu từ A1 đến A19”, mặt sau phong bì phần mép dán chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) chiếc phong bì màu trắng đã được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau phong bì phần mép dán chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) chiếc xi lanh có gắn kim tiêm, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại có phần tay cầm bọc nhựa màu hồng.
  • - 01 (một) mảnh gỗ, kích thước (25x14) cm.

Vì các vật chứng là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm chi tiết của các vật chứng, như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Hà Giang và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.)

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 các bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/01/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - THADS huyện;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - HS THAHS;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Củng Trần Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T giao cho K mang ma túy bán cho H1 và B với tổng trọng lượng là 0,602g
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger