|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày : 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ - TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tiền Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/. Ông Đoàn Minh Hùng
- 2/. Ông Nguyễn Văn Còn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Phúc là thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Bùi Trí T, sinh ngày 30/11/1988; Nơi sinh tại Long An; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số B ấp A, xã Q, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Trí D, sinh năm 1958 (còn sống) và bà Võ Thị G, sinh năm 1964 (còn sống); Có vợ: Mai Thị D1, sinh năm 1991; Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Văn L – Chi nhánh Công ty L1 tại thành phố T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. (Có mặt)
2. Bùi Thành T1, sinh ngày 20/01/1992; Nơi sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số C ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quang T2, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Cao Thị H, sinh năm 1958 (còn sống); Có vợ: Võ Thị N không có đăng ký kết hôn có 01 đứa con chung tên Bùi Ngọc D2, sinh năm 2011 và cháu D2 đang sống với bà Cao Thị H. Hiện tại, Bùi Thành T1 sống như vợ chồng với bà Hồ Thị Ngọc Á, sinh năm 1998, có 01 con chung 08 tháng tuổi chưa đăng ký khai sinh chưa đặt tên; Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 26/9/2023, bị Công an xã T quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa đóng phạt); Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An từ ngày 27/9/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Ông Phan Minh T3, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Trần Quang V, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số G đường N, khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số D ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Trần Tuấn K, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số A ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Bùi Hữu P, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp A+3, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Phan Văn B, sinh năm 1972: Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-TTr ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An truy tố Bùi Thành T1 và Bùi Trí T về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 27/9/2023, Bùi Thành T1 chở vợ (chưa đăng ký kết hôn) tên Hồ Thị Ngọc Á, sinh năm 1998, nơi thường trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Long An bằng xe mô tô loại Dream biển số 62F5-3669 từ nhà tại ấp D, xã T, huyện T đến nhà của ông Trần Quang V, sinh năm 1954, địa chỉ số G, đường N, khu phố T, thị trấn T lấy trộm 01 chậu kiểng chưa đưa ra ngoài được thì bị Công an thị trấn T phát hiện bắt giữ đưa về Công an thị trấn T làm việc. Qua làm việc, bị cáo Bùi Thành T1 còn khai nhận trước đó có lấy trộm 01 tượng phật Di Lạc bằng đá tại ấp B, xã B, cụ thể:
Vào khoảng 03 giờ, ngày 22/9/2023, Bùi Thành T1 điều khiển xe đạp một mình từ nhà tại ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An đến quán C cập đường C thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (quán cà phê do anh Phan Minh T3, sinh năm 1992, nơi thường trú 460, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An làm chủ) với mục đích lấy bộ bàn thờ có thờ ông thần tài và ông địa, vì nơi đặt bàn thờ để phía ngoài quầy của quán không rào chắn, mục đích lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến quán, Bùi Thành T1 dựng xe đạp ở ngoài đường C cặp quán cà phê, gần cái ghế đá, rồi ngồi ở ghế đá nghỉ. Sau đó, Bùi Thành T1 đi vào đến chỗ bàn thờ gần quầy bán nước trong quán thấy cái bàn thờ bằng gỗ nhưng bàn thờ lớn mà Bùi Thành T1 đi xe đạp một mình không chở được, vả lại bàn thờ có dây điện gắn từ trong quầy ra đốt đèn trong bàn thờ, Bùi Thành T1 không dám cắt dây điện sợ điện giật. Lúc này Bùi Thành T1 nhìn thấy phía trên bàn thờ có 01 tượng hình phật Di Lạc bằng đá dễ lấy nên Bùi Thành T1 nảy sinh ý định lấy trộm tượng phật này. Khi đó, Bùi Thành T1 dẫn chiếc xe đạp tới phía trước (hướng Cao Thị M về hướng Công an thị trấn T) khuất khỏi quán “Dạ Khúc”, tiếp đó Bùi Thành T1 đi vào dùng 2 tay ôm tượng phật này bỏ lên baga sau xe đạp và điều khiển xe chạy đi trên đường C hướng về Công an thị trấn T. Khi chạy khỏi quán “Dạ Khúc” được khoảng 200m thì Bùi Thành T1 ghé vào lề đường bên phải dừng xe và ôm tượng phật bỏ vào bụi cỏ, lấy cỏ và lá cây phủ lên tượng phật để cất giấu (vị trí để cạnh gốc cây bằng lăng tím, cách lề đường khoảng 2 mét). Sau đó Bùi Thành T1 tiếp tục điều khiển xe đạp chạy về nhà mình. Do chưa có nơi tiêu thụ nên Bùi Thành T1 chưa bán được tượng phật đã lấy trộm. Đến rạng sáng ngày 27/9/2023, Bùi Thành T1 đi trộm chậu kiểng nhà ông Trần Quang V thì bị Công an thị trấn T phát hiện mời về Công an thị trấn làm việc. Tại Công an thị trấn T Bùi Thành T1 khai nhận đã trộm tượng phật như nội dung trên, đồng thời chỉ chổ cất giấu tượng phật để Công an thị trấn T thu hồi. Sự việc lấy trộm tượng phật Di Lạc tại quán “Dạ Khúc” có camera của quán ghi nhận lại toàn bộ hành động trộm cắp tượng phật của Bùi Thành T1.
Sau khi thu hồi, kiểm tra xác định tượng phật Di Lạc bằng đá màu vàng hồng, kích thước 58x32x32cm, có cân nặng 35,5 kg. Riêng cái chậu kiểng Bùi Thành T1 lấy trộm có đặc điểm làm bằng đất nung đã qua sử dụng (cũ), cao 40cm, đường kính miệng 56cm, thân chậu màu xanh có nhiều hoa văn và nhiều vết nứt không rõ hình.
Ngày 27/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có yêu cầu định giá tài sản số 62/YC-CQCSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện T xác định giá trị thiệt hại của 01 (Một) tượng phật bằng đá màu vàng hồng, kích thước 58x32x32cm, có cân nặng 35,5 kg và 01 (Một) cái chậu kiểng có đặc điểm làm bằng đất nung đã qua sử dụng (cũ), cao 40cm, đường kính miệng 56cm, thân chậu màu xanh có nhiều hoa văn và nhiều vết nứt không rõ hình. Tại Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐG ngày 27/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận 01 (Một) tượng phật bằng đá màu vàng hồng tại thời điểm mất trộm có giá trị 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) và 01 (Một) cái chậu kiểng có đặc điểm nêu trên tại thời điểm bị mất trộm ngày 27/9/2023 có giá trị thiệt hại là 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Do trước đó Hồ Thị Ngọc Á chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi trộm chậu kiểng ngày 27/9/2023 Hồ Thị Ngọc Á cùng Bùi Thành T1 có giá trị 450.000đ chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Công an thị trấn T lập hồ sơ xử lý hành chính theo quy định.
Quá trình điều tra, ngoài lần trộm cắp tài sản ngày 22/9/2023 và ngày 27/9/2023, Bùi Thành T1 còn khai nhận trước đó còn thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- - Vụ 1: Khoảng cuối tháng 8/2023 (bị hại cung cấp bị mất chậu ngày 11/8/2023), khoảng hơn 11h trưa, Bùi Thành T1 đến nhà của ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1977, nơi thường trú 489, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An lấy trộm 01 chậu kiểng bằng sứ màu xanh trắng, chậu có đường kính miệng khoảng 60cm lọt lòng, phía ngoài thành chậu có hình rồng (chậu trồng cây thiên tuế để ở sân nhà) đem bán cho Bùi Trí T được số tiền 700.000 đồng.
- - Vụ 2: Đầu tháng 9/2023 (bị hại cung cấp bị mất chậu đêm 02 rạng 03/9/2023), khoảng 2h sáng, Bùi Thành T1 đến nhà của Trần Tuấn K, sinh năm 1990, nơi thường trú 136, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An lấy trộm 01 cái chậu kiểng bằng sứ màu xanh trắng, chậu kiểng có hình rồng, kích thước lọt lòng miệng chậu khoảng 50cm, trên chậu có trồng 01 cây mai chiếu thủy để ở trước sân nhà, Bùi Thành T1 nhổ cây mai chiếu thủy ra khỏi chậu, lấy trộm chậu
giấu cặp đường đê trước nhà Trần Tuấn K. Đến 5h sáng, Bùi Thành T1 đến chở chậu lên gần bến đò xã B (xã N) bán cho Bùi Trí T được số tiền 400.000 đồng.
- - Vụ 3: Ngày không nhớ nhưng trong tháng 9/2023 (bị hại cung cấp mất trộm chậu vào ngày 13/9/2023), khoảng 5h sáng, Bùi Thành T1 lấy trộm 01 cái chậu kiểng bằng sứ (kích thước miệng chậu khoảng 80cm, chậu rồng có màu xanh trắng) ở vườn nhà ông Bùi Hữu P, sinh năm 1974, nơi ở hiện tại ấp 1+3, xã T, huyện T, tỉnh Long An (nhà nối liền quán cà phê sát bến phà L), chậu trồng cây bông giấy, Bùi Thành T1 nhổ cây bông giấy bỏ lại, đem chậu ra khỏi hàng rào, sau đó gọi điện thoại cho Bùi Trí T đến bán được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu), chậu này do Bùi Trí T chỉ Bùi Thành T1 lấy trộm.
- - Vụ 4: Ngày không nhớ nhưng trong tháng 9/2023, khoảng 3-4 giờ sáng Bùi Thành T1 đến nhà ông Trần Quang V, sinh năm 1954, địa chỉ số G, đường N, khu phố T, thị trấn T lấy trộm 01 cái chậu kiểng bằng sứ (chậu có nền màu vàng, xung quanh có màu xanh trắng, kích thước miệng chậu khoảng 40cm, bên ngoài thành chậu có hình bông mai), sau khi trộm chậu Bùi Thành T1 nhắn tin cho Bùi Trí T đến bán được số tiền 900.000 đồng (chậu này do Bùi Trí T chỉ Bùi Thành T1 lấy trộm).
- - Vụ 5: Khoảng hơn 19h ngày 26/9/2023, Bùi Thành T1 đến vườn trồng mai của ông Phan Văn B, sinh năm 1972, nơi thường trú ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An (vườn mai ở khu phố B, thị trấn T) lấy trộm 01 cái chậu kiểng bằng sứ (chậu có kích thước miệng chậu khoảng 60cm lọt lòng, có hình rồng mặt ngoài chậu, có màu xanh trắng), trên chậu có trồng 01 cây mai, Bùi Thành T1 nhổ bỏ cây mai, lấy trộm chậu chở lên gần ngã 4 L điện thoại Bùi Trí Toàn T ra bán được số tiền 600.000 đồng (chậu này do Bùi Trí T chỉ Bùi Thành T1 lấy trộm).
Quá trình điều tra xác định người mua chậu kiểng mà Bùi Thành T1 lấy trộm là Bùi Trí T. T là người mua bán chậu kiểng, có đăng lên mạng xã hội Facebook và Z để mua bán, trao đổi chậu kiểng. Khoảng tháng 8/2023, Bùi Thành T1 lấy trộm được 01 cái chậu kiểng của anh Nguyễn Minh H1 nên Bùi Thành T1 liên lạc với Bùi Trí T để bán. Từ đó Bùi Thành T1 và Bùi Trí T kết bạn Zalo với nhau. Bùi Trí T nói với Bùi Thành T1 khi nào có chậu kiểng thì liên lạc Bùi Trí T để bán. Đến đầu tháng 9/2023, Bùi Thành T1 lấy trộm 01 chậu kiểng của anh Trần Tuấn K thì liên lạc Bùi Trí T đến mua. Thời điểm này, Bùi Trí T vẫn chưa biết chậu kiểng Bùi Thành T1 bán cho mình do trộm mà có. Từ đó về sau, Bùi Trí T nói sẽ chỉ chậu kiểng cho Bùi Thành T1 lấy trộm bán cho mình. Trong
tháng 9/2023, Bùi Trí T đã chỉ chổ cho Bùi Thành T1 lấy trộm 04 cái chậu kiểng bán cho mình. Trong thời gian này vì muốn có 01 cái bàn thờ ông địa và ông thần tài nên Bùi Trí T chụp ảnh cái bàn thờ đang thờ ông địa và ông thần tài ở quán cà phê “Dạ Khúc” gửi qua Zalo cho Bùi Thành T1 lấy trộm, nếu lấy được bộ bàn thờ thì Bùi Trí T sẽ mua với giá 1,5 triệu đồng. Khi đặt hàng Bùi Trí T chỉ chụp hình gửi Bùi Thành T1 chứ không nói rõ lấy trộm bộ bàn thờ gồm những món gì, Bùi Thành T1 cũng không hỏi lại. Đến rạng sáng 22/9/2023, Bùi Thành T1 đến quán “Dạ Khúc” thấy bàn thờ khó lấy (vì có dây điện và đèn trong bàn thờ đang cháy), thấy trên bàn thờ có để 01 tượng phật Di Lạc nên Bùi Thành T1 lấy trộm cất giấu ở lề đường Cao Thị M, sau đó Bùi Thành T1 điện thoại cho Bùi Trí T đến lấy tượng phật Di Lạc, tuy nhiên Bùi Trí T không có nhu cầu sử dụng tượng phật này nên Bùi Trí T không mua. Bùi Thành T1 không biết nơi tiêu thụ nên vẫn cất giấu tượng phật chổ cũ đến ngày 27/9/2023 đã chỉ Công an thị trấn T đến thu hồi. Qua đối chất giữa Bùi Thành T1 với Bùi Trí T chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự Bùi Trí T về hành vi đồng phạm với Bùi Thành T1 về việc trộm tượng phật Di Lạc nêu trên.
Ngày 05/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có yêu cầu định giá tài sản số 76/YC-CQCSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện T xác định giá trị thiệt hại của 05 cái chậu mà Bùi Thành T1 đã lấy trộm của Trần Quang V; Trần Tuấn K; Phan Văn B; Bùi Hữu P; Nguyễn Minh H1 tại thời điểm tháng 9/2023.
Tại bản kết luận số 12/KL-HĐĐG ngày 05/12/2023 kết luận giá trị các chậu kiểng bị mất trộm thời điểm tháng 09/2023 như sau:
- - 01 (Một) cái chậu kiểng có đặc điểm làm bằng gốm sứ, đã qua sử dụng (cũ), đường kính miệng 56cm, thân chậu màu xanh, trắng có nhiều hoa văn (của bị hại Trần Quang V) có giá trị là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
- - 01 (một) Chậu kiểng (đã cũ) kích thước (07x35x65)cm, màu xanh rêu, mặt ngoài thành chậu có họa tiết hình rồng, phía dưới đái chậu có nhiều lỗ nhỏ hình tròn (của bị hại Trần Tuấn K) có giá trị là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- - 01 (một) Chậu kiểng (đã cũ) kích thước (08x37x80)cm, màu xanh ngọc, mặt ngoài thành chậu có họa tiết hình rồng, mặt trong dưới đái chậu có nhiều lỗ nhỏ hình tròn và khắc chữ không rõ, đáy chậu có nhiều vết nứt không rõ hình (của bị hại Phan Văn B) có giá trị 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
- - 01 (một) Chậu kiểng bằng gốm sứ, đường kính miệng chậu khoảng 90cm, thành ngoài chậu có đắp hình rồng, chậu có màu xanh rêu (của bị hại Bùi Hữu P) có giá trị 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- - 01 (Một) cái chậu kiểng có đặc điểm làm bằng gốm sứ, đã qua sử dụng (cũ), đường kính miệng 70cm, thân chậu màu xanh, trắng có hình rồng ở thành chậu (của bị hại Nguyễn Minh H1) có giá trị 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền của 05 cái chậu bị mất trộm nêu trên có giá trị là 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
Ngày 27/9/2023, tạm giữ tài sản do Bùi Thành T1 lấy trộm gồm: 01 tượng phật bằng đá màu vàng hồng, kích thước 58 x 32 x 32cm, có cân nặng 35,5 kg; 01 cái chậu kiểng có đặc điểm làm bằng đất nung đã qua sử dụng (cũ), cao 40cm, đường kính miệng 56cm, thân chậu màu xanh có nhiều hoa văn và nhiều vết nứt không rõ hình (riêng cái chậu kiểng giao Công an thị trấn T tạm giữ, xử lý).
Ngày 17/11/2023, Bùi Trí T tự nguyện giao nộp 02 chậu kiểng đã mua của Bùi Thành T1 gồm:
- - 01 (một) chậu kiểng (đã cũ) kích thước (07x35x65)cm, màu xanh rêu, mặt ngoài thành chậu có họa tiết hình rồng, phía dưới đái chậu có nhiều lỗ nhỏ hình tròn (chậu Bùi Thành T1 lấy trộm của Trần Tuấn K).
- - 01 (một) chậu kiểng (đã cũ) kích thước (08x37x80)cm, màu xanh ngọc, mặt ngoài thành chậu có họa tiết hình rồng, mặt trong dưới đái chậu có nhiều lỗ nhỏ hình tròn và khắc chữ không rõ (chậu Bùi Thành T1 lấy trộm của ông Phan Văn B).
Ngày 20/12/2023, Bùi Trí T tự nguyện giao nộp số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) để bồi thường cho các bị hại: Nguyễn Minh H1; Bùi Hữu P và Trần Quang V.
Ngày 01/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng số 14/QĐ-CQCSĐT trả lại ông Phan Minh T3, sinh năm 1992, nơi thường trú 460, ấp B xã B, huyện T, tỉnh Long An 01 tượng phật bằng đá màu vàng hồng, kích thước 58x32x32cm, có cân nặng 35,5 kg.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 17/QĐ-CQCSĐT trả lại cho các bị hại tài sản như sau:
- - Trả lại cho ông Trần Tuấn K, sinh năm 1990, nơi thường trú 136, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An 01 chậu kiểng (đã cũ) kích thước (07 x 35 x 65) cm, chậu có màu xanh rêu, mặt ngoài thành chậu có họa tiết hình rồng, phía dưới đái chậu có nhiều lỗ nhỏ hình tròn;
- - Trả lại ông Phan Văn B, sinh năm 1972, nơi thường trú ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An 01 chậu kiểng (đã cũ) kích thước (08 x 37 x 80) cm, chậu có màu xanh ngọc, mặt ngoài thành chậu có họa tiết hình rồng, mặt trong dưới đái chậu có nhiều lỗ nhỏ hình tròn và khắc chữ không rõ, đáy chậu có nhiều vết nứt không rõ hình.
- - Trả cho ông Trần Quang V, sinh năm 1954, địa chỉ số G, đường N, khu phố T, thị trấn T, tỉnh Long An số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) Công an thị trấn T trả lại cho ông Trần Quang V 01 chậu Kiểng Tín trộm vào ngày 27/9/2023.
- - Trả cho ông Bùi Hữu P, sinh năm 1974, nơi ở hiện tại ấp 1+3, xã T, huyện T, tỉnh Long An số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- - Trả cho ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1977, nơi thường trú 489, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
Hiện tại, Tang vật chứng chờ xử lý tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Long An gồm: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, số seerri R55K80LTLMP, bên trong có sim số 0347076302, mặt kính màn hình bị nứt không rõ hình. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKS-TTr ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/01/2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã thu giữ tài sản bị mất trộm và trả lại cho các ông Phan Minh T3, Trần Tuấn K, Phan Văn B, Trần Quang V, Bùi Hữu P, Nguyễn Minh H1. Ông Phan Minh T3, Trần Tuấn K, Phan Văn B, Trần Quang V, Bùi Hữu P, Nguyễn Minh H1 không có yêu cầu gì thêm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập đến.
Theo đó, bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An truy tố Bùi Thành T1 và Bùi Trí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố trong phần luận tội đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bùi Thành T1 và Bùi Trí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Bùi Trí T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng đến 18 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Bùi Thành T1 từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/9/2023.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Thành T1 45 ngày (kể từ ngày tuyên án ngày 25/4/2024) để bảo đảm thi hành án.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo T và T1.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, số seerri R55K80LTLMP, bên trong có sim số 0347076302, mặt kính màn hình bị nứt không rõ hình, không còn giá trị sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu trách nhiệm dân sự gì đối với bị cáo T1 và T nên không đề cập xem xét.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Trí T trình bày: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét hỏi tại phiên toà Luật sư thống nhất với cáo trạng và ý kiến của Kiểm sát viên về việc truy tố và xét xử bị cáo Bùi Trí T về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy
nhiên, khi lượng hình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã khác phục hậu quả; Bị cáo T có bà nội vợ là Mẹ Việt Nam anh hùng. Trước đây, bị cáo là giáo viên được nhiều giấy khen trong công tác dạy học nên bị cáo được hưởng tình tiết theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và cộng đồng xã hội.
Bị cáo T nhất trí với lời bày trình của người bào chữa, không bổ sung gì.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng là các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Các bị hại là ông Phan Minh T3, ông Trần Quang V, ông Nguyễn Minh H1, ông Trần Tuấn K, ông Bùi Hữu P và ông Phan Văn B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện T, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong tháng 8 và 9 năm 2023, Bùi Thành T1 lợi dụng đêm tối lén lút lấy trộm của ông Phan Minh T3 (chủ quán cà phê “Dạ Khúc”) 01 (Một) tượng phật Di Lạc để trên bàn thờ trị giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) và trộm của ông Nguyễn Minh H1 01 (một) chậu
kiểng trị giá 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) của anh Trần Tuấn K 01 (Một) chậu kiểng trị giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Đồng thời, trong thời gian này, Bùi Trí T trực tiếp chỉ 04 chậu kiểng cho T1 đi trộm: của anh Bùi Hữu P 01 chậu kiểng trị giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), Trần Quang V 02 (hai) chậu kiểng trị giá 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm chục nghìn đồng); Phan Văn B 01(một) chậu kiểng trí giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Tổng tài sản mà bị cáo T1 trộm là 15.650.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó, bị cáo Bùi Trí T chịu trách nhiệm liên quan đến việc chỉ bị cáo T1 trộm chậu kiểng của ông Bùi Hữu P, ông Trần Quang V, ông Phan Văn B với tổng giá trị là 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T1 và T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của kiểm sát viên. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Bùi Trí T và Bùi Thành T1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và khung hình phạt của bị cáo T1 và T theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, các bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì muốn hưởng lợi một cách bất chính nên đã cố tình lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tình chất, mức độ và vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mình gây ra.
[5] Tuy nhiên, cần xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
[5.1] Về nhân thân: Bị cáo T1 có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự; Riêng bị cáo T1 nhân thân xấu vì có 01 tiền sự bị Công xã Tân Phước T4 xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về tội sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 26/9/2023 và chưa đóng phạt.
[5.2] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5.3] Tình tiết giảm nhẹ:
[5.3.1] Bị cáo Bùi Trí T đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, đây được xem là tình tiết người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; quá trình điều tra vụ án Bùi Trí T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra Bùi Trí T có bà nội vợ là Mẹ Việt Nam anh hùng, bản thân Bùi Trí T trước đó là giáo viên cũng đã được tặng giấy khen được quy định tại Điểm b, s và i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
[5.3.2] Bị cáo Bùi Thành T1 có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò của đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi các bị cáo gây ra phạm vào khung hình phạt ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng mức độ ảnh hưởng xấu của hành vi phạm tội không lớn, hậu quả của tội phạm đã được khắc phục kịp thời, không có hậu quả gì lớn nghiêm trọng xảy ra. Các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nhưng tính chất giản đơn, chưa có sự cấu kết chặt chẽ trong quá trình phạm tội, chỉ là đồng phạm giản đơn với vị trí, vai trò mức độ thiệt hại các bị cáo đã thực hiện như sau: Trong vụ án này, Bùi Thành T1 đã thể hiện vai trò chính là người trực tiếp thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản, Bùi Trí T giúp sức là nơi tiêu thụ tài sản trộm, xúi giục để T1 thực hiện hành vi trộm. Cho nên cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc quyết định mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và vai trò thực hiện tội phạm của các bị cáo. Cụ thể:
[6.1] Đối với bị cáo Bùi Trí T giữ vị trí giúp sức xúi giục thực hiện hành vi phạm tội lẽ ra cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T. Tuy nhiên, xét bị cáo T phạm tội có mức độ, trộm cắp tài sản có giá trị các lần cộng lại chỉ 3.150.000 đồng và đã khắc phục hết hậu quả; bị cáo có nhiều tình tiết tạm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, như phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tự khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại các bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bà nội vợ là
Mẹ Việt Nam anh hùng, bản thân Bùi Trí T trước đó là giáo viên cũng đã được tặng giấy khen; Tại phiên toàn, bị cáo T có nộp bổ sung các tình tiết như: Hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận ngày 22/4/2023: bản thân là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi con còn nhỏ; nhân thân bị cáo tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội thì cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung; việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng gây nguy hại gì cho xã hội. Do bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong một thời gian nhất định thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
[6.2] Đối với bị cáo Bùi Thành T1 giữ vai trò là người thực hiện hành vi trộm liên tục với mức độ trộm cắp tài sản với giá trị các lần cộng lại là 15.650.000 đồng; bị cáo có nhân thân xấu, quá trình điều tra thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đủ sức răn đe, để giáo dục bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình để từ đó hoàn thiện lối sống khi tái hòa nhập cộng đồng trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, để đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, nhưng xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng như sau: Xét thấy, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, số seerri R55K80LTLMP, bên trong có sim số 0347076302, mặt kính màn hình bị nứt
không rõ hình của bị cáo T1 dùng vào việc liên lạc với với bị cáo T để thực hiện hành vi phạm tội bị nút màn hình không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Xét lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Trí T về việc cho bị cáo T được hưởng án treo là có căn cứ nên được chấp nhận.
[11] Xét mức hình phạt tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[12] Về án phí: Bị cáo Bùi Trí T và Bùi Thành T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Trí T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/4/2024).
Giao bị cáo Bùi Trí T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Bùi Trí T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Bùi Trí T phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp bị cáo Bùi Trí T thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Bùi Trí T phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
1.3 Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Trí T.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
2.1 Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thành T1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/9/2023.
2.3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Thành T1.
2.4. Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Thành T1 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/4/2024) để đảm bảo việc thi hành án.
3. Về vật chứng xử lý như sau: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, số seerri R55K80LTLMP, bên trong có sim số 0347076302, mặt kính màn hình bị nứt không rõ hình. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKS-TTr ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/01/2024).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
4.1 Buộc bị cáo Bùi Trí T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.
4.2 Buộc bị cáo Bùi Thành T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.
5. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tiền Phương |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ - TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thành T phạm tội trộm cắp tài sản
