|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số:09/2024/DSST Ngày: 25-4-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.
Ông Nguyễn Tất Bẩy.
- Thư ký phiên toà: Bà La Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án: Ông Nguyễn Văn D - Cán bộ Ngân hàng TMCP V (VpBan K). (Có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Tầng D, Tòa nhà V1, số B - 30 M, P. N, T.P B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: 1/ Ông Hà Quang T, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
2/ Hoàng Thị Bích L, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
(Chị Hoàng Thị Bích L ủy quyền cho ông Hà Quang T theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2024)
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Phố Kim, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) do ông Nguyễn Văn D là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP V và vợ chồng ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L có ký hợp đồng tín dụng số LN2104143615683 ngày 16/4/2021 vay:
- Số tiền gốc 2.780.000.000 đồng.
- Thời hạn vay: 120 tháng.
- Lãi suất vay trong hạn: 8,99%/01 năm.
- Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng.
- Lãi suất quá hạn (Áp dụng với dư nợ gốc): Bằng 150% mức lãi suất cho vay tron hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ xấu quá hạn.
- Lãi suất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
- Số tiền nợ gốc còn nợ lại: 1.650.747.806 đồng
- Ngày chuyển nợ quá hạn: 15/8/2022.
Đối với phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021;
- Tổng số tiền vay: 82.024.947 đồng.
- Thời hạn vay: 09 tháng.
- Lãi suất vay:8,99%.
- Mục đích vay: Tiêu dùng.
- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ xấu quá hạn.
- Lãi suất chậm trả áp dụng với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
- Số tiền nợ gốc còn nợ lại: 36.455.532 đồng
- Ngày chuyển nợ quá hạn: 15/7/2022.
Đối với Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019.
- Tổng số tiền vay: 112.000.000 đồng.
- Thời hạn vay: 36 tháng.
- Lãi suất phát vay: 20 %/năm, biên độ 12%/01 năm
- Mục đích vay: Tiêu dùng.
- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ xấu quá hạn.
- Số tiền nợ gốc còn nợ lại: 23.066.479 đồng
- Ngày chuyển nợ quá hạn: 11/3/2022.
Tài sản đảm bảo cho những khoản vay trên gồm:
1/ Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 127, tờ bản đồ số 115, địa chỉ: Thôn C, xã P, L, Bắc Giang, diện tích 200 m2 đất ở. Đã được UBND huyện L cấp GCNQSÐ đất và tài sản gắn liền với đất số: CN 113934, số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH 09014, theo quyết định cấp số: 587/QĐ-UB cấp ngày 5/6/2018 theo Hợp đồng thế chấp QSD đất số: LN 2104143615683/BGG/HĐTC-01 ký ngày 16/4/2021.
2/ Toàn bộ Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Thôn C, xã P,L, Bắc Giang, diện tích 1524,4m2 . Đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 183255, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 07313, theo quyết định cấp số 2877/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/12/2015. Cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 08/01/2021. Theo hợp đồng thế chấp số LN2104143615683/BGG/HĐTC-02 ký ngày 16/04/2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng, Giấy đăng kiêm hợp đồng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán ông Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L đã trả tổng số tiền 1,567,289,854 và đề nghị ngân hàng giải chấp 01 tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 127, tờ bản đồ số 115, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 200m2. Đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CN 113934, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 09014, theo quyết định cấp số 587/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 05/06/2018 và đã được ngân hàng chấp thuận. Vì vậy, ngân hàng không đề nghị xử lý đối với tài sản này.
* Tổng số tiền vợ chồng anh Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L còn nợ gốc còn nợ lại: 1.710.636.724 đồng.
* Số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử 25/4/2024: 573.061.059 đồng
* Số tiền nợ lãi chậm trả tính đến ngày xét xử 25/4/2024: 7.925.170 đồng
* Tổng số nợ gốc, lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả tính đến ngày 25/4/2024 là: 2. 291.256. 046 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông Hà Quang T trả số tiền nợ còn lại nhưng ông T không trả, vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng.
Nay ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L phải trả số tiền nợ gốc, lãi, lãi chậm trả tính đến ngày 25/4/2024: 2,291,256,046 đồng
Nếu vợ chồng anh Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L không thực hiện nghĩa vụ trả hết số nợ gốc, lãi, lãi chậm trả tính đến ngày 25/4/2024 thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số số 70, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 1524,4m2. Đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 183255, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 07313, theo quyết định cấp số 2877/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/12/2015. Cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 08/01/2021. Theo hợp đồng thế chấp số LN2104143615683/BGG/HĐTC-02 ký ngày 16/04/2021.
* Tại bản tự khai bị đơn anh Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L đều trình bày:
Ông bà đều xác đình có ký hợp đồng tín dụng số LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông bà đã trả được số gốc và lãi. Số còn lại do tình hình dịch bệnh Covid bùng nổ, kinh tế khó khăn ông bà chưa trả được ngân hàng như đã thỏa thuận. Nay ngân hàng khởi kiện đòi ông bà phải trả số tiền gốc và lãi phát sinh, nếu không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp của tôi với ngân hàng. Ông bà nhất trí trả ngân hàng số tiền gốc và lã phát sinh đã vay còn lại theo hợp đồn tín dụng; Phần phụ lục hợp đồng; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử đã ký kết nhưng mong ngân hàng cho ông bà thời gian để thu xếp trả số tiền còn nợ ngân hàng, nếu không trả được thì tôi đề nghị Ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm của vợ chồng đang thế chấp tại ngân hàng V.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ xác định: Thửa đất số 70, tờ bản đồ số 40, địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 183255, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận QSD đất: CH07313 do UBND hyện L cấp ngày 23/12/2015; chủ sử dụng là hộ bà Hồ Thị T1 và ông Đào Đức P; Diện tích theo Giấy chứng nhận: 1524,4m2, Trong đó có: 400 m2 đất ở và 1124,4 m2 đất trồng cây lâu năm đã chuyển nhượng cho ông Hà Quang T và vợ Hoàng Thị Bích L theo hồ sơ số: 17382 ngày 18/12/2020.
Trên diện tích đất 1524,4 m2 có: 01 đoạn tường be đất, 01 diện tích đất nhỏ có lối bê tông và một số cây dại.
* Tại phiên tòa các bên đương sự không thống nhất giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng các điều 299, Điều 323, Điều 357, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228-Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 90, Điều 91, Điều 95 và 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 12 của Luật Ngân hàng N; các Điều 166, Điều 167, Điều 170 của Luật Đất đai; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V: Buộc ông Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền là 2,291,256,046 đồng, gồm: Nợ gốc:1,710,269,817 đồng và nợ lãi: 573,061,059 đồng, lãi chậm trả: 7,925,170 đồng.
Kể từ ngày 26/04/2024, ông T, bà L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng số hợp đồng tín dụng số LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản đảm bảo của ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L theo Hợp đồng thế chấp số LN 2104143615683/BGG/HĐTC-02 ký ngày 16/4/2021 là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 1524,4m2 . Đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 183255, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 07313, theo quyết định cấp số 2877/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/12/2015
2. Về án phí: Ông Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.565.000 đồng tại Biên lai thu số 0005818 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện buộc ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng; Phần phụ lục hợp đồng; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử đã ký kết. Căn cứ quy định tại Điều 26; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn là ông Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L do anh Hà Quang T là đại diện theo ủy quyền được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Hà Quang T.
[1.3] Về áp dụng pháp luật nội dung: Giao dịch dân sự giữa ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L và Ngân hàng được xác lập vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành. Do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy: Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện bị đơn là ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L do đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019; ông T, bà L đều tham gia ký vào hợp đồng cho vay. Quá trình thực hiện hợp đồng ông T, bà L đã trả 1,567,289,854 đồng và còn nợ lại số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả tính đến ngày 25/4/2024 là: 2,291,256,046. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên xác lập một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy Hợp đồng tín dụng; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019 được lập giữa ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L và Ngân hàng là hợp pháp nên phát sinh hiệu lực thi hành giữa các bên.
[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T, bà L mới trả được số tiền gốc, tiền lãi, tiền lãi chậm trả: 1,567,289,854 đồng tiền gốc, số tiền gốc, lãi, lãi chậm trả chưa trả tính đến ngày 25/5/2024 là: 2,291,256,046. Như vậy ông T, bà L đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán khi đến định kỳ hạn trả nợ. Hội đồng xét xử thấy ông T, bà L đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Cần buộc ông T, bà L phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng, số LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019 cho đến khi trả xong nợ theo quy định tại các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Về lãi suất: Theo thỏa thuận về lãi suất tại Hợp đồng tín dụng số LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019. Hội đồng xét xử thấy thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật về lãi suất cho vay. Việc tính lãi suất của Ngân hàng được tính theo đúng quy định của hợp đồng, phù hợp với từng giai đoạn điều chỉnh lãi suất và quy định về áp dụng lãi suất của Ngân hàng quy định tại thời điểm điều chỉnh. Theo các tài liệu, quyết định về việc ban hành điều chỉnh mức lãi suất cho vay áp dụng tại từng thời kỳ và đối chiếu với bảng tính lãi thống kê chi tiết của Ngân hàng cung cấp số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử (ngày 25/4/2024) thì ông ông T, bà L còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 2,291,256,046 đồng, gồm: Nợ gốc: 1,710,269,817 đồng và nợ lãi: 573,061,059 đồng, lãi chậm trả 7,925,170 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho Ngân hàng, lỗi vi phạm hợp đồng thuộc về bị đơn kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, ông T, bà L phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng và tiếp tục phải lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 25/4/2024) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản đảm bảo: Để đảm bảo cho khoản vay tín dụng, ông T, bà L và Ngân hàng đã ký hợp đồng thế chấp số LN 2104143615683/BGG/HĐTC-02 ký ngày 16/4/2021 để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019. Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 1524,4m2 . Đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 183255, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 07313, theo quyết định cấp số 2877/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/12/2015. Hội đồng xét xử thấy Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết và công chứng tại Văn phòng công chứng là đúng quy định tại Điều 119, Điều 317, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167, Điều 168 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký giữa các bên có hiệu lực pháp luật để thi hành. Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp phía bị đơn không trả được các khoản nợ là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại Điều 147-Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[5] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên cần chấp nhận.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 317, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 12 của Luật Ngân hàng N; Điều 166, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V: Buộc ông Hà Quang T, chị Hoàn Thị Bích L1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền nợ tính đến ngày 25/4/2024 là 2,291,256,046 đồng, gồm: Nợ gốc: 1,710,269,817 đồng và nợ lãi: 573,061,059 đồng, lãi chậm trả: 7,925,170 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN2104143615683 ngày 16/4/2021; Phần phụ lục hợp đồng ngày 16/11/2021; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết ngày 10/6/2019. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Trong trường hợp ông Hà Quang T, chị Hoàng Thị Bích L không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng thì Ngân hàng thương mại cổ phần V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản đảm bảo của ông Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L theo Hợp đồng thế chấp số LN 2104143615683/BGG/HĐTC-02 ký ngày 16/4/2021 là Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, diện tích 1524,4m2 . Đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 183255, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 07313, theo quyết định cấp số 2877/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 23/12/2015.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Ông Hà Quang T và chị Hoàng Thị Bích L phải chịu 77.825.120 đồng (Bẩy bẩy triệu tám trăm hai mươi năm nghìn một trăm hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.565.000 đồng tại Biên lai thu số 0005818 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 09/2024/DSST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
