| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/KDTMPT.
Ngày: 24-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các Thẩm phán:
- Ông Hoàng Quý Sửu
- Bà Trần Thị Nhài
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lý Hoà - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 7 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2024/TLPT-KDTM ngày 28 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân Hàng TMCP Đ (B)
Địa chỉ: Tòa tháp B, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân Hàng TMCP Đ
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang M, sinh năm 1991 – Chức vụ: Phó trưởng phòng trung tâm xử lý nợ Ngân hàngTMCP Đầu Tư và P. (có mặt)
Ông Lưu Đức D, sinh năm 1983 - Giám đốc phòng giao dịch huyện P chi nhánh N4.(có mặt)
Ông Dương Minh T1 – Trưởng phòng khách hàng cá nhân chi nhánh N4 Ngân hàng TMCP Đ. (có mặt)
Bà Đinh Trần Thanh X – Chuyên viên Ngân hàngTMCP Đầu Tư và P. (Vắng mặt) - Bị đơn: Ông Phạm Minh T2, sinh năm 1977. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Đức N - Công ty L – Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt) - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Thanh M1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. - Ông Nguyễn Quyết C và bà Nguyễn Thị H; đều cùng địa chỉ: Xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (xin vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1982 (vắng mặt).
- Bà Phạm Thúy N1 sinh năm 1986 (vắng mặt)
Đều trú tại: Xóm A, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. - Ông Phạm Văn D1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Đều trú tại: Tổ B phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. - Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên: Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang N3 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên môi trường thành phố T. (vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên: Đại diện theo ủy quyền ông Lê Đức V – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P (có đơn xin vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên: Đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Huy H1 - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q (có đơn xin vắng mặt)
- Bà Phan Thị Thanh M1, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Minh T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
Ông Phạm Minh T2 có ký các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng B cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng số 01/2017/6439564/HĐTD ngày 14/07/2017ông T2 ký vay Ngân hàng B số tiền là 7.000.000.000đ thời hạn vay 10 năm, lãi suất thỏa thuận 10,5%/năm trong 1 năm đầu tiên, sau 1 năm 6 tháng điều chỉnh 1 lần, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân 2 lần: Lần 1 giải ngân số tiền 4.000.000.000₫ vào ngày 14/7/2017 lần 2 giải ngân số tiền 3.000.000.000đ vào 18/7/2017. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T2 đã trả gốc là 4.217.300.000₫ và trả lãi là 1.989.589.576đ, Dư nợ gốc còn lại là 2.782.700.000đ, lãi trong hạn là 1.043.321.904₫, lãi quá hạn là 599.621đ. Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/3/2021 nên Ngân hàng làm đơn khởi kiện.
- Hợp đồng tín dụng số 02/2017/6439564/HĐTD ngày 16/08/2017 ông T2 vay Ngân hàng số tiền 500.000.000đ thời hạn vay 84 tháng lãi suất 10.5% năm đầu tiên sau đó điều chỉnh 6 tháng 1 lần, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 đã trả gốc là 267.750.000 đ, còn nợ gốc 232.250.000₫ và nợ lãi trong hạn là 91.398.945đ, lãi quá hạn 15.440.645 đ Từ ngày 25/2/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và gốc.
- Hợp đồng tín dụng số 01/2019/6439564/HĐTD ngày 15/10/2019 ông T2 vay 320.000.000đ thời hạn vay 119 tháng, lãi suất 8,2%/năm đầu tiên sau đó điều chỉnh 6 tháng 1 lần, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày, ông T2 đã trả xong gốc ngày 27/9/2022, ông T2 còn nợ tiến lãi trong hạn là 66.162.168₫
- Hợp đồng tín dụng số 03/2020/6439564/HĐTD ngày 17/11/2020. Ông T2 vay Ngân hàng số tiền 1.600.000.000đ thời hạn vay 5 tháng lãi suất 7,5% năm sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 đã trả gốc là 658.019.541đ, còn nợ gốc là 941.980.459đ và nợ lãi trong hạn là 328.467.661đ, lãi quá hạn là 145.329.721đ; từ ngày 25/1/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và trả gốc từ 19/4/2021.
- Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2019/6439564/HĐTD ngày 25/11/2019 (hạn mức được cấp 14 tỷ, thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng và hợp đồng hạn mức số 01/2020 ký ngày 15/9/2020 hạn mức được cấp 16.500.000.000đ. Sau khi ký hợp đồng ông T2 đã rút tiền nhiều lần và có ký nhận nợ nhiều lần nhưng đã trả 1 số lần, đến nay còn nợ những lần cụ thể sau: (15 lần)
- Hợp đồng số 01.27/2019 ngày 22/07/2020 số tiền vay 500.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9 % năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày. Đã trả gốc là 500.000.000đ, còn nợ lãi trong hạn là 819.288đ, lãi quá hạn là 302.966đ; Từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi.
- Hợp đồng số 01.28/2019 ngày 22/07/2020 số tiền vay 480.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9 % năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 đã trả xong gốc còn nợ lãi trong hạn là 21.184.073đ, lãi quá hạn là 5.500.749đ; từ ngày 22/3/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi
- Hợp đồng số 01.29/2019 ngày 23/07/2020 số tiền vay 550.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9% năm, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 đã trả xong gốc, còn nợ lãi trong hạn là 43.213.505đ, lãi quá hạn là 15.705.930đ, từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi
- Hợp đồng số 01. 30/2019 ngày 24/07/2020 số tiền vay 470.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9 % năm sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 đã trả xong gốc, còn nợ lãi trong hạn là 59.587.115đ, lãi quá hạn là 24.693.736đ, từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi.
- Hợp đồng số 01. 31/2019 ngày 27/07/2020 số tiền vay 520.000.000₫ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9 % năm, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 đã trả xong gốc, còn nợ lãi trong hạn là 90.404.493đ, lãi quá hạn là 39.242.904đ . từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi
- Hợp đồng số 01. 32/2019 ngày 28/07/2020 số tiền vay 450.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9% năm, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Đã trả xong gốc còn nợ lãi trong hạn là 78.234.658đ, lãi quá hạn là 33.960.205đ, từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi
- Hợp đồng số 01. 33/2019 ngày 29/07/2020 số tiền vay 480.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9 % năm, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày, ông T2 đã trả xong gốc, còn nợ lãi trong hạn là 83.450.302đ, lãi quá hạn là 36.224.219đ. Từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi
- Hợp đồng số 01. 34/2019 ngày 14/9/2020 số tiền vay 2.000.000.000đthời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9% năm, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày, đến nay ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 580.328.767₫, lãi quá hạn là 256.027.397đ. Từ ngày 25/01/2021 ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc ngày 14/5/2021
- Hợp đồng số 01. 35/2019 ngày 14/9/2020 số tiền vay 1.800.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8,9 % năm, sau khi ký hợp đồng ngân hàng đã giải ngân trong ngày. Đến nay ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 522.295.890đ, lãi quá hạn là 230.424.658đ. Từ ngày 25/01/2021 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc từ ngày 14/5/2021
- Hợp đồng số 01. 01//2020 ngày 30/10/2020 số tiền vay 1.865.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8% năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày, ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 486.432.877đ, lãi quá hạn là 204.996.712đ. Từ ngày 25/01/2021 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc ngày 30/6/2021
- Hợp đồng số 01. 02//2020 ngày 09/11/2020 số tiền vay 1.250.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8% năm, sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân trong ngày, ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 326.027.397đ, lãi quá hạn là 136.164.384đ,. Từ ngày 25/01/2021 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc ngày 09/7/2021
- Hợp đồng số 01. 03//2020 ngày 11/11/2020 số tiền vay 1.230.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8%/ năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 320.810.959đ, lãi quá hạn là 133.716.164đ. Từ ngày 25/01/2021 vi phạm trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc ngày 11/7/2021
- Hợp đồng số 01. 04//2020 ngày 12/11/2020 số tiền vay 1.220.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8% /năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 318.202.740đ, lãi quá hạn là 132.629.041đ. Từ ngày 25/01/2021 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc từ ngày 12/7/2021.
- Hợp đồng số 01. 04/2020 ngày 19/11/2020 số tiền vay 500.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8% /năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 chưa trả gốc và nợ lãi trong hạn là 130.410.959, lãi quá hạn là 53.917.808đ, từ ngày 25/01/2021 vi phạm trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc từ ngày 19/7/2021
- Hợp đồng số 01. 05/2020 ngày 25/11/2020 số tiền vay 880.000.000đ thời hạn vay 8 tháng lãi suất 8%/ năm, sau khi ký hợp đồng đã giải ngân trong ngày. Ông T2 chưa trả gốc vàợ lãi trong hạn là 229.523.288đ, lãi quá hạn là 94.220.274 đ, từ ngày 25/01/2021 vi phạm nghĩa vụ trả lãi và vi phạm nghĩa vụ trả gốc ngày 26/7/2021
Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên, ông Tuấnbà M2, ông T3 bà N1, ông D1 thế chấp đất và tài sản trên đất cụ thể như sau:
Ông T2 thế chấp đất và tài sản trên đất các thửa đất sau:
- Thửa đất số 1762, tờ bản đồ số 8 tại xã Q, TP T, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 937428, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 04206/NCN số QÐ 6242/QĐ-UBND do U cấp ngày 26/05/2014 mang tên ông Phạm Minh T2;
- Thửa đất số 1761, 2325, tờ bản đồ số 8 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do U cấp ngày 17/07/2014 mang tên ông Phạm Minh T2;
Theo Hợp đồng thế chấp số 04/2017/6439564/HĐBĐ ký ngày 12/07/2017 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên; và được đăng ký bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 14/7/2017.
- Thửa đất số 102 tờ bản đồ số 28 có địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên do U cấp ngày 22/10/2009 mang tên bà Phan Thị Thanh M1 (ngày 14/8/2017 căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng Công chứng phía Nam TP - tỉnh T chứng nhận ngày 14/08/2017, toàn bộ diện tích trong GCN thuộc QSD riêng của ông Phạm Minh T2);
- Thửa đất số 103, tờ bản đồ số 28 có địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do U cấp ngày 06/04/2010 mang tên bà Phan Thị Thanh M1 (Đến ngày 14/8/2017 căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng Công chứng phía Nam TP - tỉnh T chứng nhận ngày 14/08/2017, toàn bộ diện tích trong GCN thuộc QSD riêng của ông Phạm Minh T2);
- Thửa đất số 104, tờ bản đồ số 28 có địa chỉ tại Phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do U cấp ngày 06/04/2010 mang tên bà Phan Thị Thanh M1 (Đến ngày 14/8/2017 căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng Công chứng phía Nam TP - tỉnh T chứng nhận ngày 14/08/2017, toàn bộ diện tích trong GCN thuộc QSD riêng của ông Phạm Minh T2).
Theo hợp đồng thế chấp số 07/2017/6439564/HĐBĐ ký ngày 14/08/2017 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 15/8/2017
- Thửa đất số 2321,2328, tờ bản đồ số 08 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 319200 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH05124 số QĐ 9186/UBND do U cấp ngày 01/09/2015 mang tên ông Phạm Minh T2(Ngày 18/8/2017 Căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng C3 chứng nhận toàn bộ diện tích trong GCN đã được đăng ký biến động thành tài sản riêng của ông Phạm Minh T2);
- Thửa đất số 2323, 2331 tờ bản đồ số 08 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 319198 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH05126 số QĐ 9186/UBND do U cấp ngày 01/09/2015 mang tên ông Phạm Minh T2 (Ngày 18/8/2017 Căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng C3 chứng nhận toàn bộ diện tích trong GCN đã được đăng ký biến động thành tài sản riêng của ông Phạm Minh T2);
- Thửa đất số 2317, 2332, tờ bản đồ số 08 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 281903 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH05120 số QĐ 9186/UBND do U cấp ngày 01/9/2015 mang tên bà Phan Thị Thanh M1 (Ngày 18/8/2017 Căn cứ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng C3 chứng nhận toàn bộ diện tích trong GCN đã được đăng ký biến động thành tài sản riêng của ông Phạm Minh T2);
Theo Hợp đồng thế chấp số 08/2017/6439564/HĐBĐ ký ngày 23/08/2017 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 24/8/2017
- Thửa đất số 2320, 2329 tờ số 8, địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 281902 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH05122 số QĐ: 9186/UBND do U cấp ngày 01/9/2015 mang tên bà Phan Thị Thanh M1 (Ngày 23/8/2017 căn cứ VB thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng được văn phòng C3, tỉnh Thái Nguyên chứng nhận ngày 23/8/2017, toàn bộ diện tích trong GCN đã được đăng ký biến động thành tài sản riêng của ông Phạm Minh T2);
Hiện đang thế chấp tại B theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 10/2017/6439564/HĐTC ký ngày 23/08/2017 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên đảm bảo cho hợp đồng vay của khách hàng Phạm Minh T2 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 24/8/2017
Ngoài ra ông T2 còn cầm cố Toàn bộ quyền sở hữu trái phiếu theo giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu phát hành ra công chúng đợt 1 năm 2019 của Ngân hàng TMCP Đ do Công ty cổ phần Đ (B1) phát hành, số seri: BID2_19.05_01147, mệnh giá 320.000.000 đồng, thời hạn trái phiếu 10 năm, ngày phát hành: 26/09/2019; mang tên Phạm Minh T2.
Hiện đang được cầm cố thế chấp tại B theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng và cầm cố tài sản số 01/2019/6439564/HĐTD ký ngày 15/10/2019 đảm bảo cho hợp đồng vay của khách hàng Phạm Minh T2.
Bà M1 ông T2 thế chấp các tài sản gồm:
- Thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 15, tờ bản đồ số 28 có địa chỉ tại phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số BM 212365; số vào sổ cấp GCN: CH02756/CM số QĐ: 3232/QĐ-UBND do U cấp ngày 24/04/2013 mang tên ông Nguyễn Đức M3 do bà M1 nhận chuyển nhượng ngày 30/9/2019.
- Tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 212366 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH02755/CM số QĐ: 3232/QĐ-UBND do U cấp ngày 24/04/2013 mang tên bà Vũ Thị V1 do bà M1 nhận chuyển nhượng ngày 30/9/2019.
- Tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 28, địa chỉ tại phường P, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số BM 212367 số vào sổ cấp GCN: CH02754/CM số QĐ: 3232/QĐ-UBND do UBND thành phố T cấp ngày 24/04/2013 cho bà Nguyễn Thị Y do bà M1 nhận chuyển nhượng ngày 30/9/2019; Ba thửa đất trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 03/2019//HĐTC ký ngày 02/12/2019 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên và được C1 nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 02/12/2019.
Ông D1 thế chấp tài sản gồm:
- Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2318, 2326 tờ bản đồ số 8 có địa chỉ tại xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 281904 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH05121 số QĐ 9186/UBND do U cấp ngày 01/09/2015 mang tên ông Phạm Văn D1. Hiện đang thế chấp tại B theo Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số 09/2017/6439564/HĐBĐ ký ngày 23/08/2017 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên đảm bảo cho hợp đồng vay của khách hàng Phạm Minh T2 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 24/8/2017.
Ông T3 và bà N1 thế chấp Toàn bộ đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2322, 2327 tờ bản đồ số 8 có địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA319199 số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất CH05125 số QĐ 9186/UBND do U cấp ngày 01/09/2015 mang tên bà Phạm Thúy N1; thửa đất số 2319,2330, tờ bản đồ số 08, địa chỉ tại xã Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA281901 số vào số cấp GCN QSDĐ số CH05123 số QĐ 9186/UBND do U cấp ngày 01/9/2015 mang tên ông Phạm Văn T3, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 11/2017/6439564/HĐTC ký ngày 23/08/2017 ký tại Văn phòng C2, tỉnh Thái Nguyên đảm bảo cho hợp đồng vay của ông Phạm Minh T2 và được C1 nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 24/8/2017
Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ của các khoản vay trên nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T2 có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc và lãi trong các hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 21.081. 304.582đồng. Trong đó tiền gốc là: 14.701.930.459đ; Lãi trong hạn là 4.820.276.989 đ; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29/3/2024 là 1.559.097.134 đồng.
Ông T2 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng.
Nếu ông T2 không thanh toán được khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản thế chấp đã được đăng ký để thu hồi nợ.
Bị đơn ông Phạm Minh T2 trình bày: Ông có ký 1 số khoản vay với Ngân hàng Đ - Chi nhánh N4 như Ngân hàng trình bày, khi vay ông có ký hợp đồng các hợp đồng thế chấp đất và tài sản trên đất để đảm bảo cho các khoản vay với Ngân hàng. Việc ký hợp đồng thế chấp được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, ông nhất trí trả nợ cho Ngân hàng nhưng do doanh nghiệp của ông gặp nhiều khó khăn nên ông đề nghị Ngân hàng giãn nợ cho ông để ông có điều kiện làm ăn trả nợ cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Văn D1 thừa nhận có được ký hợp đồng thế chấp tài sản số 0920176439564 lập ngày 24/6/2017 với Ngân hàng Đ - Chi nhánh N4 để đảm bảo cho khoản vay của ông Phạm Minh T2, việc ký hợp đồng thế chấp đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, hiện nay việc kinh doanh gia đình gặp nhiều khó khăn đề nghị Ngân hàng cho trả nợ dần.
Bà M1 là vợ ông T2, bà Nguyễn Thị N2 vợ ông D1 trong quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà M1 và bà N2 không đến Tòa để giải quyết nên không có lời khai.
Ông Phạm Văn T3 bà Phạm Thúy N1 trình bày: Ông bà có được ký vào hợp đồng thế chấp số 11/ 2017/6439564/HĐTC ngày 23/8/2017 với Ngân hàng, thế chấp đất và tài sản gắn liền với đất tại các thửa đất 2322, thửa đất 2327 và thửa đất 2329,2320 đều tờ bản đồ số 8 địa chỉ thửa đất tại xóm S xã Q để đảm bảo cho khoản vay của ông T2 với Ngân hàng Đ, ông T3 và bà N1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày: Đối với 1 phần diện tích ông T2 đã xây dựng nhà ở liền khối trên thửa đất số 72 tờ bản đồ số 28 đo đạc năm 1995 loại đất suối X vị trí 64m2, giáp ranh với thửa đất số 102 tờ bản đồ 28 phường P hiện nay ông T2 đã xây nhà sang đất hành lang suối đề nghị căn cứ vào khoản 2 Điều 70 nghị định 43 ngày 15/5/2014 của Chính Phủ có ghi:.... Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất.... trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận tài sản gắn liền với đất...... Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
Ủy ban nhân dân phường P trình bày: Công trình nhà ở của ông T2 được xây dựng từ năm 2008, qua kiểm tra hồ sơ qua các thời kỳ không thấy hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hiện trạng nhà ở của ông T2 không ảnh hưởng đến dòng chảy của suối, hiện nay suối đã được quy hoạch xây dựng sang địa bàn phường T.
Ủy ban nhân dân xã Q trình bày đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông C bà H có thửa đất 1293 xóm S xã Q giáp ranh với gia đình ông T2 ông D1 bà N1 xác định: Các gia đình đã xây dựng đúng ranh giới, mốc giới, gia đình ông không tranh chấp đất đối với gia đình ông T2, ông D1 và bà N1, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã Quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ.
- Buộc ông Phạm Minh T2 có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là 21.081.304.582đồng. Trong đó tiền gốc là: 14.701.930.459đ; Lãi trong hạn là 4.820.276.989 đ; Lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29/3/2024 là 1.559.097.134 đồng,
Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm trả nợ cụ thể đối với từng hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp, về án phí, lệ phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 02/5/2024 ông Phạm Minh T2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án số 04 ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày nội dung kháng cáo của bị đơn, các căn cứ kháng cáo và tranh luận:
Nội dung kháng cáo thứ nhất: Đối với các Hợp đồng tín dụng số 01/2019/6439564/HĐTD ngày 15/10/2019 ông T2 vay 320.000.000đ; Hợp đồng số 01.27/2019 ngày 22/07/2020 số tiền vay 500.000.000đ; Hợp đồng số 01. 30/2019 ngày 24/07/2020 số tiền vay 470.000.000đ; Hợp đồng số 01. 31/2019 ngày 27/07/2020 số tiền vay 520.000.000đ; Hợp đồng số 01. 32/2019 ngày 28/07/2020 số tiền vay 450.000.000đ; Hợp đồng số 01. 33/2019 ngày 29/07/2020 số tiền vay 480.000.000đ. Các hợp đồng này ông T2 đã trả đủ toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng, như vậy sẽ không còn nợ lãi trong hạn và quá hạn đối với Ngân H2, đề nghị Ngân hàng xem xét lại.
Nội dung kháng cáo thứ 2: Ông T2 vay Ngân hàng và đã có rất nhiều tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông T2 đối với Ngân hàng. Do quá trình kinh doanh thua lỗ nên ông T2 đã có đề nghị với Ngân hàng cho ông T2 bán tài sản đang thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng nhưng không được Ngân hàng tạo điều kiện dẫn đến ông T2 không có tiền để trả cho Ngân hàng. Đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để ông T2 bán tài sản để trả nợ cho Ngân hàng.
Đại diện của Ngân hàng TMCP Đ không nhất trí toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn. Ngân hàng xác định: Đối với các hợp đồng tín dụng ông T2 đã trả được số tiền gốc nhưng ông T2 không trả lãi cho Ngân hàng theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh ông T2 còn nợ Ngân hàng số tiền như bản án sơ thẩm đã xét xử. Ngân hàng không nhất trí về nội dung kháng cáo của bị đơn đề nghị Ngân hàng giao tài của ông T2 đang thế chấp tại Ngân hàng để ông T2 bán lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng. Bởi lẽ, về việc xử lý tài sản đảm bảo phải căn cứ theo quy định chung của Ngân hàng N5.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM- ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Ông Phạm Minh T2 phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Phạm Minh T2 làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà, ông T2 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Phạm Minh T2, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngân hàng TMCP Đ và ông Phạm Minh T2 có ký nhiều hợp đồng hạn mức và hợp đồng tín dụng, sau khi ký hợp đồng B đã giải ngân cho ông T2 nhiều lần, ông T2 đã ký nhận nợ. Để đảm bảo cho khoản vay, ông T2, bà M1, ông T3 bà N1 và ông D1 đã thế chấp đất và tài sản gắn liền với đất của nhiều thửa đất, việc thế chấp được lập thành văn bản và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và quá trình thực hiện hợp đồng có đủ cơ sở xác định đến nay ông T2 còn nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền gốc và lãi là 21.081.304.582đồng. Bản án sơ thẩm đã quyết định buộc ông Phạm Minh T2 có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là 21.081.304.582đồng là có căn cứ. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Minh T2.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
[3.] Về án phí. Do không được chấp nhận kháng cáo nên ông Phạm Minh T2 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Minh T2
Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Án phí phúc thẩm: Ông Phạm Minh T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm 2.000.000đồng (hai triệu đồng) được khấu trừ vào số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng) tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp theo biên lai thu số 0002811 ngày 13/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 09/2024/KDTMPT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2024/KDTMPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Minh T2; Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
