TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-5-2024
"V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Siu Lanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Phan Thị Nhàn.
- 2. Ông Phạm Huy Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay Ha -Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXX-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Mỹ L, sinh năm 1993.
Bị đơn: Anh Phan Văn Đ, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Đường P, tổ dân phố B, phường H, tỉnh Gia Lai.
Chị L có mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 16/02/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị Mỹ L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ tìm hiểu, tiến tới hôn nhân trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 19/9/2017 tại UBND phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu vợ chồng sống cũng hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên hay to tiếng qua lại. Có lúc, khi mâu thuẫn anh Đ còn cầm dao đuổi theo chị L và còn tra tấn tinh thần chị L trong nhiều năm. Nguyên nhân anh Đ hay ghen tuông vô cớ, rồi kiếm chuyện chửi mắng, đánh đập chị L. Hiện nay để bảo vệ tính mạng và sức khỏe của mình, chị L đã chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay chị L thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Phan Văn Đ.
- Về con chung: 01 con chung là Phan Ngọc B, sinh ngày 27/4/2017. Hiện con đang ở với anh Đ, anh Đ có nguyện vọng nuôi con, chị L cũng đồng ý giao con cho anh Đ trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai bị đơn anh Phan Văn Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân: anh thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, to tiếng, xúc phạm nhau và anh Đ có đập phá đồ đạc trong nhà, đánh chị L. Hiện nay, chị L không còn sống chung và đã chuyển đi nơi khác ở. Nguyện vọng của anh Đ không muốn ly hôn, tạo điều kiện để hòa giải cùng nhau nuôi con. Về con chung: anh Đ có nguyện vọng nuôi con và không có yêu cầu chị L cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị Mỹ L đã chấp hành và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn anh Phan Văn Đ không chấp hành và không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình như không đến Tòa án làm việc và không tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX tuyên xử cho chị Hoàng Thị Mỹ L ly hôn với anh Phan Văn Đ.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Phan Ngọc B, sinh ngày 27/4/2017 cho anh Phan Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục (Do cháu B có nguyện vọng ở với anh Đ)
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Văn Đ không yêu cầu. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị L tự nguyện đóng góp nuôi con hằng tháng 1.000.000 đồng, đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện đóng góp nuôi con của chị L.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Hoàng Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Hoàng Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con; bị đơn anh Phan Văn Đ hiện đang cư trú tại: Tổ B, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:
Bị đơn anh Phan Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về phạm vi giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Văn Đ đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, biết được các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuy nhiên anh Phan Văn Đ không hợp tác, không có yêu cầu phản tố; không tham gia phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án để giải quyết
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/9/2017 tại UBND phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Theo quy tại khoản 1, khoản 5 Điều 3 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn nếu “...có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
HĐXX nhận thấy, quá trình sống chung giữa chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ trách nhiệm trong gia đình, anh Đ thường xuyên xúc phạm, đánh đập chị L. Hiện vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa, nên chị L yêu cầu được ly hôn, anh Đ không đồng ý ly hôn, muốn vợ chồng về đoàn tụ cùng nuôi dạy con chung. Kết quả xác minh tại dân phố 2 cho biết “... Hiện nay vợ chồng chị L và anh Đ đã sống ly thân, chỉ có anh Đ và con ở nhà, vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa, chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống”. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để động viên, khuyên bảo vợ chồng chị L, anh Đ bỏ qua mâu thuẫn về đoàn tụ gia đình nhưng không thành, bởi vì anh Đ không hợp tác, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, điều đó chứng tỏ anh Phan Văn Đ không có thiện chí muốn về đoàn tụ gia đình với chị L. Tại phiên tòa hôm nay, chị L nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không hạnh phúc và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, nên chị L vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị L và anh Đ là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, chị L kiên quyết yêu cầu ly hôn, cho nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình: xử cho chị Hoàng Thị Mỹ L được ly hôn với anh Phan Văn Đ là có căn cứ .
[2.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ có 01 con chung tên Phan Ngọc B, sinh ngày 27/4/2017. Khi xem xét nguyện vọng của cháu B, thì cháu có nguyện vọng ở với anh Đ.
Xét thấy, hiện cháu đang sống với Đ, được anh Đ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc phát triển bình thường. Quá trình giải quyết vụ án, tại bản khai anh Đ cũng đồng ý nhận con và trực tiếp nuôi dưỡng và không có tranh chấp gì. Do đó HĐXX thấy cần tiếp tục giao cháu Phan Ngọc B cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:
Tại bản khai anh Đ không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa anh Đ vắng mặt. Tại phiên tòa chị L tự nguyện đóng góp nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng cho anh Đ. Xét thấy, để cuộc sống của cháu B được thuận lợi, bảo đảm về mọi mặt, nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện đóng góp nuôi con của chị L là hợp tình, hợp lý; việc này vừa thể hiện trách nhiệm của người mẹ, vừa là sợi dây kết nối tình cảm giữa người mẹ và con sau ly hôn.
[2.4] Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3] Về án phí: Chị Hoàng Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 96, khoản 4 Điều 147; Điều 235; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Mỹ L .
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Mỹ L được ly hôn với anh Phan Văn Đ.
- Về con chung: Giao cháu Phan Ngọc B sinh ngày 27/4/2017 cho anh Phan Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện đóng góp nuôi con hàng tháng của Hoàng Thị Mỹ L 1.000.000 đồng/tháng (số tiền do anh Phan Văn Đ nhận)
Thời gian nuôi con và cấp dưỡng nuôi con được tính từ ngày 24/5/2024 cho cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự; không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Chị Hoàng Thị Mỹ L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0011931, ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai. Chị còn phải nộp thêm 300.000 đồng.
6. Quyền kháng cáo:
Chị Hoàng Thị Mỹ L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/5/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm.
Anh Phan Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Siu Lanh |
Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA - TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị Mỹ L và anh Phan Văn Đ tìm hiểu, tiến tới hôn nhân trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 19/9/2017 tại UBND phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu vợ chồng sống cũng hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên hay to tiếng qua lại. Có lúc, khi mâu thuẫn anh Đ còn cầm dao đuổi theo chị L và còn tra tấn tinh thần chị L trong nhiều năm. Nguyên nhân anh Đ hay ghen tuông vô cớ, rồi kiếm chuyện chửi mắng, đánh đập chị L. Hiện nay để bảo vệ tính mạng và sức khỏe của mình, chị L đã chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay chị L thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Phan Văn Đ.
