|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:09/2024/HNGĐ - ST Ngày: 23/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Vũ Hải Dương.
Hội thẩm nhân dân: Ông: Lê Đắc Tỵ; Ông: Bùi Hữu Thành.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Đỗ Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 18/2024/TLST- HNGĐ ngày 3/5/2024, về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 4 tháng 7 năm 2024; giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (Vắng mặt - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nông Văn K, sinh năm 1982 (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng trú tại: khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Người làm chứng:
- + Chị Quách Thị N, sinh năm 1986; anh Bùi Văn K1, sinh năm 1980; bà Bùi Thị P, sinh năm 1959; bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958. (Vắng mặt).
Địa chỉ: khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/4/2024, bản tự khai ngày 3/5/2024 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nông Văn K ngày 6/12/2004; hai bên kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình (Nay là UBND xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình). Sau khi kết hôn chị H về chung sống cùng gia đình anh K tại khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K thường đi làm ăn xa, không quan tâm chăm sóc đến gia đình vợ con. Từ cuối năm 2020 anh K đi làm ăn xa mà không cho chị H và gia đình biết anh đi đâu, làm gì và ở đâu, thỉnh thoảng có liên lạc với cháu Nông Thị Phương T1 là con gái qua mạng xã hội mà không hề quan tâm, hỏi thăm chị H. Vào cuối năm 2023 chị H có tổ chức đám cưới cho con gái anh chị là cháu T1 và cháu T1 có gọi điện cho anh K qua mạng xã hội nhưng anh K cũng không về và cũng không hỗ trợ hay quan tâm gì đối với chị H. Cháu T1 có hỏi địa chỉ nhưng anh K không cho biết anh đang làm gì, cư trú ở đâu.
Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lạc Thuỷ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn K.
Về con chung: Chị H khai trong quá trình chung sống chị và anh K có hai con chung là cháu Nông Thị Phương T1, sinh năm 2005 và cháu Nông Văn H1, sinh ngày 6/12/2008. Cháu T1 đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H có nguyện vọng nuôi con là cháu Nông Văn H1 và chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết
Về công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ tại nơi cư trú của anh K. Tại biên bản lấy lời khai anh K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận lời khai của chị H về thời gian, điều kiện kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn nảy sinh. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế, quan hệ vợ chồng không hòa hợp. Khi mâu thuẫn xảy ra thì anh có đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về, vợ chồng cũng không quan tâm gì đến nhau. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh xác nhận lời khai của chị H trong quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Nông Thị Phương T1, sinh năm 2005 và cháu Nông Văn H1, sinh ngày 6/12/2008. Cháu T1 đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do chị H có nguyện vọng nuôi con là cháu Nông Văn H1 và chưa yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con nên anh đồng ý giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu H1.
Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình thu tập tài liệu, chứng cứ và lấy lời khai của người làm chứng đều xác nhận về mâu thuẫn gia đình giữa chị H và anh K, hai bên đã không chung sống cùng nhau từ năm 2020 đến nay.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghị án: Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký tòa án đã tuân thủ đúng theo Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định của BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, tuyên xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nông Văn K.
Về con chung: cháu Nông Thị Phương T1, sinh năm 2005 đã trưởng thành, chị H, anh K không yêu cầu pháp luật giải quyết nên không đề cập.
Giao cháu Nông Văn H1, sinh ngày 6/12/2008 cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh K được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Chị H chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị H, anh K chưa yêu cầu pháp luật giải quyết, nên không đề cập.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; HĐXX nhận định:
[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bị đơn anh Nông Văn K, cùng có hộ khẩu thường trú tại khu V, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chị H có yêu cầu khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Về nội dung vụ án:
- * Về quan hệ hôn nhân: Ngày 6/12/2004 chị Nguyễn Thị H và anh Nông Văn K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình (Nay là UBND xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình); đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong việc phát triển kinh tế, quan hệ vợ chồng không hòa hợp. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về phía anh K cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị H đã đến đỉnh điểm, không thể hàn gắn được, chị H kiên quyết ly hôn, quan điểm của anh K cũng đồng ý ly hôn với chị H.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- * Về con chung: Trong quá trình chung sống theo xác nhận của chị H, anh K anh chị có hai con chung là cháu Nông Thị Phương T1, sinh năm 2005 và cháu Nông Văn H1, sinh ngày 6/12/2008.
Cháu T1 đã trưởng thành, chị H, anh K đều không yêu cầu pháp luật giải quyết nên HĐXX không đề cập.
Cháu H1 có nguyện vọng được ở với mẹ là chị H; chị H có nguyện vọng được nuôi cháu H1 khi ly hôn, anh K đồng ý nên HĐXX căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là cháu Nông Văn H1, sinh ngày 6/12/2008 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị H chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- * Về tài sản chung, công nợ chung: chị H, anh K chưa yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.
[4] Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử:
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, tuyên xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nông Văn K.
- + Về con chung: Giao cháu Nông Văn H1, sinh ngày 6/12/2008 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị H chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu H1 nên không giải quyết.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- + Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001904 ngày 03/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nông Văn K vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Vũ Hải Dương |
Bản án số 09/2024/HNGĐ - ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 09/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh K
