Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 23 tháng 5 năm 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hồng Đào và ông Hà Đức Trưởng;
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng T – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST – HNGĐ ngày 11/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST – HNGĐ ngày 26/4/2024.

Nguyên đơn: Anh Hà Mạnh H, sinh ngày 28/02/1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Khu L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh ngày 10/9/1999 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn anh Hà Mạnh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 24/12/2018, anh và chị Nguyễn Thị H1 đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không hợp nhau. Khoảng tháng 9/2023, chị H1 đã về nhà mẹ đẻ tại khu H, xã V ở.

Vợ chồng đã ly thân từ thời điểm chị H1 về nhà mẹ đẻ cho đến nay, hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, cho anh ly hôn với chị H1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 (hai) con chung là cháu: Hà Phúc L, sinh ngày 30/4/2019 và cháu Hà Thị Bích N, sinh ngày 14/3/2021. Các con chung đang sống cùng với anh H, khi ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung; không yêu cầu chị H1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị H1: Trong biên bản lấy lời khai ngày 11/4/2024 chị trình bày:

Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 24/12/2018, hai bên đã đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó xảy ra xích mích, bất đồng, nguyên nhân chính là do chị có mâu thuẫn với các thành viên trong gia đình nhà chồng, chị nhiều lần cố gắng thay đổi cải thiện mối quan hệ nhưng đều không hàn gắn được.

Xuất phát từ mâu thuẫn này, nên tháng 10/2023, chị chuyển về nhà mẹ đẻ ở xóm H sinh sống, sau đó vào Thành Phố Đà Nẵng làm việc. Vợ chồng đã ly thân kể từ thời điểm chị chuyển về nhà mẹ đẻ ở.

Nay anh H xin ly hôn, chị không đồng ý, chị mong muốn được đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 (hai) con chung là cháu: Hà Phúc L, sinh ngày 30/4/2019 và cháu Hà Thị Bích N, sinh ngày 14/3/2021. Các con chung đang sống cùng với anh H, trong trường hợp phải ly hôn, chị đề nghị xin được nuôi cháu Hà Thị Bích N; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật;

Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Anh H và chị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H1 và anh H là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H. Về con chung: đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Hà Phúc L và cháu Hà Thị Bích N cho anh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì anh H không yêu cầu. Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, anh H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Anh H có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho anh ly hôn với chị H1, căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H1, tuy nhiên chị H1 cố ý vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị H1 vắng mặt không có lý do, anh H xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào, khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a,b, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị H1 trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 24/12/2018, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, Tòa án đã làm rõ hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh H, chị H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của anh H đối với chị H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị có 02 (hai) con chung là cháu: Hà Phúc L, sinh ngày 30/4/2019 và cháu Hà Thị Bích N, sinh ngày 14/3/2021. Khi ly hôn, anh H xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị H1 thực hiện nghĩa vụ nuôi con; chị H1 xin được nuôi cháu Hà Thị Bích N và không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Đối với yêu cầu này của anh H, chị H1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Gia đình anh H đã cung cấp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Bên cạnh đó, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tại chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể nơi anh H, chị H1 cư trú đều xác nhận hiện các con chung của anh, chị đang sinh sống, học tập ổn định cùng anh H.

Về yêu cầu xin nuôi con của anh H, chị H1 là đều chính đáng, thể hiện tình cảm và trách nhiệm của bố mẹ với con cái. Tuy nhiên, hiện chị H1 đang làm việc tại khu vực miền trung, cháu Bảo N1 còn nhỏ nên việc thay đổi chỗ ở, môi trường sinh hoạt để phù hợp với nơi làm việc mới của chị H1 sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

Căn cứ vào những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của anh H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi anh H, chị H1 có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.

[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh H, chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Anh H là Nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Anh H và chị H1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và các Điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4, Điều 147, khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a,b, khoản 1 Điều 238 và khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hà Mạnh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.
  2. Về con chung: Giao cháu Hà Phúc L, sinh ngày 30/4/2019 và cháu Hà Thị Bích N, sinh ngày 14/3/2021 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu thành niên. Chị H1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung vì anh H không yêu cầu.
  3. Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hà Mạnh H phải chịu 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh H đã nộp 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: 0004521 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh H, chị H1 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
  6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - THADS huyện Tân Sơn;
  • - UBND xã Văn Luông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ – ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án anh H ly hôn chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger