TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2025 V/v ly hôn giữa chị P với anh P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Đông
Ông Phạm Thành Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham
gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 534/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Trúc P, sinh năm 1994; nơi cư trú: 881, ấp L, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Đỗ Thanh P1, sinh năm 1990; nơi cư trú: 406, ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chị Trúc P và anh Thanh P1 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Đào Thị Trúc P trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Thanh P1 tự nguyện kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/10/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, mỗi người đều có công việc ổn định nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, chị có bất đồng với mẹ chồng. Từ tháng 8 năm 2024 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P1.
Chị có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Chị và anh P1 có 02 con chung tên Đỗ Khôi N, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2017 và Đỗ Phương A, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021 hiện nay đang hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh P1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh P1 không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc, chị xin vắng mặt trong vụ án. Chị cam kết không khiếu nại về sau.
Bị đơn anh Đỗ Thanh P1 trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh P1 đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh P1.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật, riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trúc P. Về con chung, đề nghị giao 02 con chung tên Đỗ Khôi N, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2017 và Đỗ Phương A, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021 cho chị Trúc P trực tiếp nuôi dưỡng; chị Trúc P không yêu cầu anh Thanh P1 cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung chị Trúc P khai là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Đào Thị Trúc P và anh Đỗ Thanh P1 là tranh chấp về ly hôn, về nuôi con chung. Bị đơn anh Thanh P1 cư trú tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng bị đơn anh Thanh P1 vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Thanh P1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2; chị Trúc P xin vắng mặt trong vụ án. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Trúc P và anh Thanh P1.
[2] Về hôn nhân: Chị Đào Thị Trúc P và anh Đỗ Thanh P1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/10/2020 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị Trúc P xác định, trong thời gian vợ chồng chung sống anh chị có nhiều bất đồng và phát sinh mâu thuẫn; mâu thuẫn kéo dài nhưng anh chị vẫn không khắc phục được. Đến nay, chị Trúc P xác định quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Thanh P1 không thể kéo dài nên cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, theo kết quả xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trúc P và anh Thanh P1 đang tồn tại, đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Thanh P1 không đến tham gia phiên hòa giải, không đến tham gia phiên tòa; điều đó cho thấy anh Thanh P1 không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trúc P và anh Thanh P1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trúc P.
[3] Về con chung: Chị Trúc P và anh Thanh P1 có 02 con chung tên Đỗ Khôi N, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2017 (theo Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp ngày 27/11/2017) và Đỗ Phương A, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021 hiện nay đang hiện nay đang sống với chị (theo Giấy khai sinh do Ủy ban
nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp ngày 21/5/2021). Chị Trúc P yêu cầu được nuôi 02 con chung. Xét thấy, chị Trúc P đang trực tiếp nuôi 02 con chung; anh Thanh P1 không có ý kiến hay yêu cầu gì về con; con chung Khôi Nguyên cũng có nguyện vọng sống cùng chị Trúc P. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của 02 con, Hội đồng xét xử giao cho chị Trúc P được trực tiếp nuôi 02 con chung là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị Trúc P không yêu cầu anh Thanh P1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trúc P khai chị và anh Thanh P1 không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, anh Thanh P1 vắng mặt trong quá trình tố tụng, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Thanh P1 về phần tài sản chung và nợ chung. Do đó, Tòa án không xem xét về tài sản chung và nợ chung.
[5] Về án phí: Chị Trúc P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
[6] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, 207, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Đào Thị Trúc P ly hôn với anh Đỗ Thanh P1.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Đỗ Khôi N, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2017 và Đỗ Phương A, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2021 cho chị Trúc P trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc chị Trúc P không yêu cầu anh Thanh P1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh Thanh P1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Chị Đào Thị Trúc P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007341 ngày 12 ngày 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Đương sự đã nộp đủ án phí.
Chị Trúc P và anh Thanh P1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Huyền |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
