|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày 22/4/2024 V/v: Tranh chấp về HN và GĐ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Đức;
- Bà Hoàng Thị Phụng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 243/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐHPT- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Lô B, khu tái định cư xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày và có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ được tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào ngày 14/11/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn, khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, có lần anh Đ đã đánh chị T. Mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ tháng 8/2023 cho đến nay chị T đưa con gái lớn về nhà bố mẹ đẻ tại xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh Đ.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ có hai con chung là con Đặng Lưu L, sinh ngày 23/10/2016 và con Đặng Minh Đ1, sinh ngày 06/4/2020. Vợ chồng ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Đặng Lưu L, để anh Đ trực tiếp nuôi con Đặng Minh Đ1, chị T và anh Đ không không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị T làm công nhân của Công ty TNHH M, thu nhập bình quân khoảng 07 triệu đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Vợ chồng chị T và anh Đ không có tài sản chung, không vay nợ chung. Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, vay nợ chung của vợ chồng.
* Bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ anh Đặng Văn Đ trình bày: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố T và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng vợ chồng bà H tại thôn Đ, xã P đến năm 2020 vợ chồng ra ở riêng tại cùng thôn. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2023 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bà H và anh Đ tổ chức sinh nhật cho các cháu nhưng chị T không về. Từ tháng 8/2023 cho đến nay chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại huyện Đ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Đối với việc chị T xin ly hôn anh Đ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vợ chồng anh Đ, chị T có hai con chung là con Đặng Lưu L, sinh ngày 23/10/2016 và con Đặng Minh Đ1, sinh ngày 06/4/2020. Hiện cháu L đang sinh sống cùng chị T, cháu Đ1 đang sinh sống cùng anh Đ. Anh Đ là lao động tự do, làm nghề nấu cỗ thuê, ai thuê thì làm.
Về tài sản chung của chị T và anh Đ, đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của anh chị. Văn bản tố tụng Tòa án gửi, bà H đã giao cho anh Đ.
* Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T cung cấp: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã P và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 14/11/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với bố mẹ anh Đ, đến năm 2020 thì vợ chồng ở riêng, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2023 xảy ra mâu thuẫn do anh Đ ham chơi, không tập trung làm ăn, không có thu nhập. Từ tháng 8/2023 chị T bỏ về bên ngoại tại huyện Đ sinh sống cho đến nay. Anh Đ vẫn ở nhà riêng tại thôn Đ, xã P, khu B ha. Vợ chồng anh Đ, chị T có hai con chung là con Đặng Lưu L, sinh ngày 23/10/2016 và con Đặng Minh Đ1, sinh ngày 06/4/2020. Hiện cháu L đang sinh sống cùng chị T, cháu Đ1 đang sinh sống cùng anh Đ. Chị T và anh Đ có tài sản chung hay không, có vay nợ chung hay không, địa phương không biết. Chị T xin ly hôn anh Đ, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
1. Về tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền và thụ lý vụ án; thực hiện đầy đủ các thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuẩn bị xét xử được thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Về thành phần tham gia xét xử và việc tiến hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa được thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình, có bản tự khai, giao nộp các tài liệu, chứng cứ tham gia đầy đủ theo triệu tập của Tòa án phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn không đến Tòa án, không có mặt tại phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại phiên tòa là chưa chấp hành quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về nội dung: Đề nghị:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đặng Văn Đ.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Lưu L, sinh ngày 23/10/2016. Giao cho anh Đặng Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Minh Đ1, sinh ngày 06/4/2020. Chị T và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, anh Đặng Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo trình tự vắng mặt chị T và anh Đ.
II. Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đ được tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau. Chị T và mẹ đẻ anh Đ trình bày, chính quyền địa phương cung cấp là chị T và anh Đ sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Xét thấy trên thực tế cuộc sống chung giữa chị T và anh Đ đã không còn tồn tại, tình yêu thương đối với nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh Đ.
[2] Về nuôi con chung: Chị T và anh Đ có hai con chung cháu Đặng Lưu L hiện tại đang sống cuàng chị T, cháu Đặng Minh Đ1 hiện tại đang sống cùng anh Đ. Cháu L có nguyện vọng được ở với chị T nếu bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung cũng như ổn định cuộc sống của các con chung. Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Lưu L, sinh ngày 23/10/2016. Giao cho anh Đặng Văn Đ trực tiếp nuôi con Đặng Minh Đ1, sinh ngày 06/4/2020. Chị T và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về chia tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung của vợ chồng. Tòa án không ghi được ý kiến của anh Đ về tài sản chung, vay nợ chung của vợ chồng nên tách phần tài sản, giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đặng Văn Đ.
- Về nuôi con chung:
- Về tài sản:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Lưu L, sinh ngày 23/10/2016. Giao cho anh Đặng Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Minh Đ1, sinh ngày 06/4/2020. Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
Tách phần tài sản, giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0001073 ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí ly hôn sơ thẩm cho chị T.
Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Văn Đ có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Chu Thị Tuyết |
Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
