TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/DS-ST
Ngày 21 tháng 5 năm 2024
V/v: Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thủy; Ông Đào Huy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST - DS ng năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: /2024/QĐST-DS ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: 1. Ông Chu Mạnh Đ, sinh năm 1955; ( Có mặt tại phiên tòa).
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957; ( Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Anh Chu Văn T1, sinh năm 1984; ( Có mặt tại phiên tòa).
Cùng ĐKHKTT và trú tại: Số A T, phường Q, thị xã S, TP ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Chu Thị Bích L, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Số A T, phường Q, thị xã S, TP .;
- Chị Chu Thị S, sinh năm 1987; ĐKHKTT: Thôn Q, xã T, thị xã S, TP ..
Chị Chu Thị Bích L và chị Chu Thị S ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn là ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày: Năm 2009, Ủy ban nhân dân thị xã S, TP . tiến hành thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình ông bà tại cánh đồng D, T, phường Q, thị xã S, TP ., đến năm 2014, UBND thị xã S cấp đất tái định cư cho ông bà tại thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP .. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 945171, số vào sổ cấp CH00121 do Ủy ban nhân dân thị xã S cấp ngày 11/12/2014 cho hộ ông Chu Mạnh Đ. Hộ ông Chu Mạnh Đ được cấp đất bao gồm các thành viên được giao đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ bao gồm 5 thành viên là: 1. Ông Chu Mạnh Đ (chủ hộ); 2. Bà Nguyễn Thị T (vợ ông Đ); 3. Chị Chu Thị Bích L (con ông Đ và bà T); 4. Chị Chu Thị S (con ông Đ và bà T); 5. Anh Chu Văn T1 (con ông Đ và bà T);
Nay ông Đ và bà T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình là thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP .. Ông Đ và bà T đề nghị Tòa án tiếp tục giao thửa đất trên cho ông bà và chị S, chị L quản lý sử dụng. Ông bà cùng chị S, chị L sẽ thanh toán cho anh Chu Văn T1 phần giá trị anh T1 được hưởng theo giá trị thửa đất đã được xác định tại Biên bản định giá tài sản và Chứng thư định giá. Bà T có xuất trình Chứng thư Thẩm định giá số: BIG-HSO-CN-0049-202402 ngày 23/02/2024 của Công ty Cổ phần T3, nội dung xác định giá trị thửa đất số A5-20, tờ bản đồ số: Phân lô, địa chỉ thửa đất: Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S; diện tích 50,0m² là 1.815.000.000,đ (Một tỷ tám trăm mười lăm triệu đồng).
Về phía bị đơn là anh Chu Văn T1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không trình bày quan điểm về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Chu Thị S và chị Chu Thị Bích L thống nhất trình bày: Về nguồn thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP . của hộ gia đình ông Chu Mạnh Đ, số thành viên trong hộ gia đình được cấp đất, chị S và chị L thống nhất như ông Đ và bà T trình bày.
Nay bà T và ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của hộ gia đình, chị S và chị L đồng ý phân chia tài sản chung cho mình nhưng tặng lại cho bố mẹ đẻ là ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn thị T tiếp tục quản lý sử dụng và định đoạt, vì trước đây ông Đ, bà T là lao động chính đồng thời tuổi cao, chị S và chị L tặng cho bố mẹ để dưỡng sức tuổi già.
Tòa án đã tiến hành xác minh nguồn gốc đất và thành viên trong hộ gia đình ông Chu Mạnh Đ được cấp đất theo Nghị định 64/CP tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã S, Ủy ban nhân dân phường Q và Tổ hợp tác Nông nghiệp Quang T2.
Tại Công văn số: 231/TNMT ngày 15/4/2024, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã S cung cấp: Hộ ông Chu Văn Đ1 – còn có tên khác Chu Mạnh Đ (gồm các thành viên trong hộ gia đình ông Đ được giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ được UBND thị xã S cấp GCNQSD đất số vào số 00323 ngày 23/8/1999) thường trú tại tổ E T, phường Q, thị xã S diện tích 50m² đất ở tại lô số 20 khu vực A khu N, phường Q, thị xã S để xây dựng nhà ở theo Quyết định số 510/QĐ-UBND ngày 02/6/2014 của UBND thị xã S. Ngày 26/11/2014, hộ ông Chu Mạnh Đ được giao đất tại thực địa sau khi đã thực hiện nộp nghĩa vụ tài chính. Ngày 12/12/2014, UBND thị xã S ban hành Quyết định số 1544/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Chu Mạnh Đ, trong đó có nội dung: Cấp GCNQSD đất, quyền ở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 945171 cho hộ ông Chu Mạnh Đ, tại phường Q, thị xã S, thành phố Hà Nội đối với thửa đất số A5-20, tờ bản đồ số: Phân lô, địa chỉ thửa đất: Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S; diện tích 50,0m²; Mục đích sử dụng: Đất ở đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài.
Tại Biên bản xác minh ngày 26/3/2024 tại UBND phường Q, đại diện chính quyền địa phương cho biết: Thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP . có nguồn gốc do UBND thị xã S cấp cho hộ gia đình ông Chu Mạnh Đ năm 2014. Vào thời điểm cấp, UBND phường không nắm được số thành viên của hộ gia đình ông Đ. Về việc tranh chấp giữa các thành viên hộ gia đình ông Đ đối với thửa đất trên, UBND phường Q đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Nay bà T và ông Đ yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất trên, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản xác minh ngày 23/4/2024, bà Đặng Thị C – Nguyên Chủ nhiệm Hợp tác xã N, hiện đang là Tổ trưởng Tổ Hợp tác Nông nghiệp Q cho biết: Hợp tác xã N nay đã chuyển đổi mô hình thành Tổ Hợp tác Nông nghiệp Q. Vào thời điểm giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, hộ ông Chu Mạnh Đ gồm các thành viên sau:
- Ông Chu Mạnh Đ (chủ hộ, lao động chính);
- Bà Nguyễn Thị T (lao động chính);
- Chị Chu Thị Bích L;
- Chị Chu Thị S;
- Anh Chu Văn T1;
Về thửa đất số A5-20, địa chỉ thửa đất: Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S; diện tích 50,0m² có nguồn gốc do hộ gia đình ông Đ được đền bù do Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ năm 2014.
Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản tranh chấp theo đơn yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26 tháng 3 năm 2024 thể hiện: Thửa đất số A5-20, tờ bản đồ: Không có số, địa chỉ thửa đất: Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, ô số 20, đất dịch vụ A5; diện tích 50,0m²; Mục đích sử dụng: Đất ở đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền ở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 945171, số vào sổ cấp CH00121 do UBND thị xã S cấp ngày 11/02/2014 cho hộ ông Chu Mạnh Đ. Trên đất hiện không có tài sản, công trình gì.
Tại Biên bản định giá tài sản ngày 26/3/2024, Hội đồng định giá tài sản thị xã S đã thống nhất sử dụng giá tài sản trên Chứng thư thẩm định giá số: BIG-HSO-CN-0049-202402 ngày 23/02/2024 của Công ty Cổ phần T3, nội dung xác định giá trị thửa đất số A5-20, tờ bản đồ số: Phân lô, địa chỉ thửa đất: Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S; diện tích 50,0m² là 1.815.000.000,đ (Một tỷ tám trăm mười lăm triệu đồng), tương đương 36.305.000 (Ba mươi sáu triệu ba trăm lẻ năm nghìn) đồng/m².
Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên do bị đơn không có mặt, Tòa án không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn yêu cầu kết thúc việc hòa giải nên Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn là anh T1 trình bày trong thửa đất chỉ có phần công sức của anh T1 và bà T, còn chị L, chị S và ông Đ không có công sức trong thửa đất do không trực tiếp làm nông nghiệp, nhưng không đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình. Anh T1 không đồng ý phân chia và chuyển nhượng thửa đất và có nhiều lời nói chửi bới bà T tại phiên tòa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tiếp tục giao ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng đất tại thửa đất số A5-20, tờ bản đồ: Không có số, địa chỉ thửa đất: Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S; diện tích 50,0m². Buộc ông Đ và bà T thanh toán cho anh T1 phần giá trị anh được hưởng.
Về án phí: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng.
Ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T khởi kiện anh Chu Văn T1 về việc tranh chấp “Chia tài sản chung của hộ gia đình) là thửa đất số A5-20, tờ bản không có số, diện tích 50,0m² địa chỉ: Khu N, phường Q, thị xã S, TP .. Xét thấy bị đơn là anh Chu Văn T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Q, thị xã S, TP ., đối tượng tranh chấp là bất động sản tại phường Q thị xã S nên Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015.
Ngoài ra quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình là thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP .. Ông Đ và bà T đề nghị Tòa án tiếp tục giao thửa đất trên cho ông bà quản lý và sử dụng. Đối với chị S, chị L nhận phần tài sản của mình tặng cho lại cho ông Đ, bà T nhận và có trách nhiệm thanh toán cho anh Chu Văn T1 phần giá trị anh T1 được hưởng theo giá trị thửa đất đã được xác định tại Biên bản định giá tài sản và Chứng thư Thẩm định giá số: BIG-HSO-CN-0049-202402 là 1.815.000.000 (Một tỷ tám trăm mười lăm triệu) đồng, tương đương 36.305.000 (Ba mươi sáu triệu ba trăm lẻ năm nghìn) đồng/m².
Tại phiên tòa anh Chu Văn T1 trình bày trong thửa đất chỉ có phần công sức của anh T1 và bà T, còn chị L, chị S và ông Đ không có công sức trong thửa đất do không trực tiếp làm nông nghiệp, nhưng không đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình. Anh T1 không đồng ý phân chia và chuyển nhượng thửa đất.
Chị Chu Thị Bích L và chị Chu Thị S cùng thống nhất đồng ý phân chia tài sản chung cho mình nhưng tặng cho lại cho bố mẹ đẻ là ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn thị T tiếp tục quản lý sử dụng và định đoạt, vì trước đây ông Đ, bà T là lao động chính đồng thời tuổi cao, chị S và chị L tặng cho bố mẹ để dưỡng sức tuổi già. Bản thân ông Đ và bà T cũng nhận việc tặng cho có lập biên bản tại Tòa án. Do vậy quyền định đoạt phần đất của chị L, chị S thuộc về ông Đ và bà T.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP . có nguồn gốc do UBND thị xã S cấp cho hộ gia đình ông Chu Mạnh Đ nên là tài sản chung của hộ gia đình. Hộ gia đình ông Chu Mạnh Đ bao gồm các thành viên được giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của Chính phủ bao gồm: Ông Chu Mạnh Đ, bà Nguyễn Thị T và các con: chị Chu Thị Bích L, chị Chu Thị S và anh Chu Văn T1. Do vậy yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình cho các thành viên trong hộ gia đình của ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T là có căn cứ nên được chấp nhận. Do có 05 thành viên trong hộ gia đình được cấp đất nên mỗi người được cấp phần diện tích là 50m² : 5 = 10m². Do diện tích trên quá nhỏ, không đủ điều kiện tách thửa theo Quyết định số: 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 của U, đồng thời không đảm bảo được giá trị sử dụng của thửa đất nên Hội đồng xét xử xét thấy chia bằng giá trị cũng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Do ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T có nhu cầu sử dụng đất, anh Chu Văn T1 không trình bày quan điểm về việc phân chia tài sản chung, chị Chu Thị Bích L và Chu Thị S tặng cho bố, mẹ là ông Đ, bà T nhận phần tài sản được chia nên HĐXX tiếp tục giao quyền sử dụng thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP . cho ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T. Bà T và ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh Chu Văn T1 phần giá trị anh T1 được hưởng là 363.000.000 đồng.
[3] Về án phí: Do ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T đều là người cao tuổi nên HĐXX áp dụng Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí cho ông Đ và bà T.
Anh Chu Văn T1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trên giá trị tài sản được chia theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 102, Điều 212, Điều 218, Điều 219 Bộ Luật dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 244, Điều 259, Điều 271, Điều 273, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T. Giao ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng đất tại thửa đất số A5-20, tờ bản đồ không có số, diện tích 50m² đất ở đô thị tại Khu nhà ở T, phường Q, thị xã S, TP ..
- Buộc ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T thanh toán cho anh Chu Văn T1 số tiền 363.000.000,đ (Ba trăm sáu mươi ba triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án (có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Chu Mạnh Đ và bà Nguyễn Thị T.
Anh Chu Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 18.150.000 đồng (Mười tám triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình
- Số bản án: 09/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đ và bà T yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình đối với anh T1
