Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH THƯỢNG

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày: 21.5.2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Tấn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hoàng Kiệt
  2. Ông Nguyễn Hoàng Hổ

Thư ký phiên tòa: Bà Quách Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Thế Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Văn L, sinh ngày 01/01/1993

N sinh: huyện V, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc kinh; giới tính Nam; quốc tịch Việt Nam;

Con ông Đặng Văn T, sinh năm 1973 (chết) và bà Phạm Thị T1 ( chết).

Vợ không; con không.

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 10/01/2024 bị UBND xã H, Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng, chấp hành xong vảo ngày 01/02/2024.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam được tại ngoại cho đến nay (có mặt).

* Bị hại: Bùi Được A, sinh ngày 01/01/1983. Có đơn xin vắng mặt

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng: Võ Văn Đ, sinh năm 1985. Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 18/01/2024 Đặng Văn L điều khiển xe mô tô mang theo thức ăn ( cháo) đi đến trung tâm y tế huyện U thuộc ấp C, xã A huyện U, Kiên Giang để thăm bệnh cha nuôi là ông Trần Văn L1 đang nằm điều trị tại đây. Sau khi gặp và nói chuyện với ông L1 một lúc, thì L điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường gần cầu V thuộc ấp Đ, xã T, huyện U, thì bị lực lượng cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính và tạm giữ phương tiện do có vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Sau đó L đi bộ lại Trung tâm y tế huyện U, rồi nằm ngủ trên ghế đá ở khu vực hành lang trước phòng bệnh. Đến khoảng 02 giờ ngày 19/01/2024 L đi vào bên trong phòng bệnh, thì thấy ông L1 và mọi người đang nằm ngủ. Lúc này L thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go của ông Bùi Được A đang cắm sạc pin để trên giường bệnh cạnh cửa ra vào, nên nảy sinh ý định lấy trộm. Lầu đi đến lén lúc rút chui cắm sạc rồi lấy điện thoại trên đi ra ngoài. Lúc này ông Võ Văn Đ đang nằm trong phòng bệnh thấy L lấy chiếc điện thoại nên hỏi người phụ nữ đang nằm trên giường bệnh có chiếc điện thoại bị L lấy, thì người phụ nữ này nói không phải điện thoại của mình. Ông Đ nghĩ là chiếc điện thoại của L nên không nói gì. Sau khi lấy trộm chiếc điện thoại đi ra khỏi phòng bệnh, L bật chế độ máy bay, của điện thoại lên rồi mang chiếc điện thoại đi ra cất giấu vào bụi cây cỏ bên ngoài Trung tâm y tế huyện U cách đó khoảng 100 mét. Sau khi cất xong, L quay lại ghế đá ngủ. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, ông Bùi Được A thức giấc và đi lại nơi cắm sạc điện thoại thì phát hiện chiếc điện thoại của mình đã bị mất trộm, nên trình báo sự việc lên cơ quan cảnh sát điều tra Cộng an huyện U.

Sáng ngày 19/01/2024 Cơ quan điều tra huyện U mời ông Đặng Văn L làm việc, qua làm việc L đã thừa nhận việc trộm cắp chiếc điện thoại di động của ông Bùi Được A và giao nộp lại chiếc điện thoại trên.

Qua điều tra Đăng Văn L2 có 01 tiền sự về hành vi “ Trộm cắp tài sản” cụ thể: Vào ngày 10/01/2024 bị UBND xã H, Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U kết luận như sau:

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go, màu xanh, tại thời điểm xâm hại ngày 19/01/2024, tài sản có giá trị là 1.100.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ:

01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go, do Đặng Văn L giao nộp.

Ngày 25/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U đã trả chiếc điện thoại trên cho bị hại Bùi Được A.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSUMT ngày 25/04/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Đặng Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn L từ 06 - 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Bùi Được A đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại bị mất, không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

Xử lý vật chứng: Ngày 25/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U đã xử lý bằng hình thức trả lại cho ông Bùi Được A vật chứng là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng đã truy tố. Bị cáo không ý kiến tranh luận

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa qua kết quả thẩm vấn, lời khai bị cáo, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thể hiện: Đặng Văn lầu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, vào ngày 19/01/2024 tại ấp C, xã A, huyện U tỉnh Kiên giang. Đặng Văn L tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động của ông Bùi Được A, với giá trị tài sản bị xâm hại là 1.100.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/01/2024 và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, trị giá tài sản bị cáo xâm hại là 1.100.000 đồng, bị cáo chưa được xóa tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, cho nên có đủ cơ sở kết luận. Bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vì mong muốn có tiền tiêu xài không phải lao động nặng nhọc bị cáo lén lút, lợi dụng lúc đêm khuya, người bị hại đã ngủ khi đang nằm viện trị bệnh tại Trung tâm y tế huyện, bị cáo đã đột nhập vào phòng bệnh của Trung tâm y tế huyện U, để lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go của bị hại.

Hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự tham lam, lười lao động, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại.

Do đó, cần xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện U Minh T2 về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 06 - 09 tháng tù là có căn cứ chấp nhận.

Bị cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét khi nghị án.

[7] Về các vấn đề khác:

  • Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U đã trả lại cho ông Bùi Được A chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt thụ hình.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn .

3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Bùi Được A đã nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 6 Go và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Đặng Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ( niêm yết) Bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện U Minh Thượng;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện U;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện U;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng;
  • - Lưu.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tấn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger