Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc

Số: 09/2025/KDTM - ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và Đỗ Hồng Phúc

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2025/TLST- DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST - DS ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (tên viết tắt MB); Địa chỉ: Số nhà A L, phường Y, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị; Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Q2 và khai thác tài sản - Ngân hàng TMCP Q1; Địa chỉ: Số A G, phường Ô, thành phố Hà Nội (Theo hợp đồng ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC ngày 13/4/2023); Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D - Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Quách Mạnh Q- chức vụ: giám đốc Vùng M; Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phùng Xuân T1, ông Vũ Thanh T2, ông Đỗ Ngọc T3 – Chuyên viên xử lý nợ (Theo văn bản ủy quyền số 1261/UQ-MBAMC ngày 12/02/2025). (có mặt ông T1 và ông T2, vắng mặt ông T3).

Bị đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1981; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố B, xã Y, tỉnh Phú Thọ (đều vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 2002; chị Phạm Thị B, sinh năm 2004; Địa chỉ: Tổ dân phố B Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ. (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 02 năm 2025, lời trình bày trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay người đại diện của Ngân hàng TMCP Q1 trình bày như sau:

Ngân hàng TMCP Q1 (MB) đã ký với ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H hợp đồng cho vay số 0001.23.355.7846930.TD ngày 03/8/2023 và các văn bản tín dụng kèm theo, cụ thể như sau:

  • - Văn bản nhận nợ số LD2415595869 ngày nhận nợ 03/6/2024, số tiền 1.000.000.000đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, lãi suất ưu đãi trong 06 tháng đầu là 6,5%/năm, ngày giải ngân 03/6/2024, ngày đến hạn 03/12/2024; ngày vi phạm 25/11/2024; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm.
  • - Văn bản nhận nợ số LD2415653670 ngày nhận nợ 04/6/2024, số tiền 1.500.000.000đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, lãi suất ưu đãi trong 06 tháng đầu là 6,5%/năm, ngày nhận nợ 04/6/2024, ngày đến hạn 04/12/2024; ngày vi phạm 25/11/2024; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm.
  • - Đơn đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ, dịch vụ ngân hàng số dành cho khách hành là cá nhân số hợp đồng: 02618200252110, mã khách hàng 7846930 ngày 27/11/2022; cho Khách hàng là Nguyễn Thị H, quá trình sử dụng thẻ đã sử dụng số tiền là 49.985.613 đồng với lãi suất trong hạn là 25%/năm, các bên thoả thuận lãi suất quá hạn là 145% lãi suất cho vay thẻ tín dụng thông thường.

Để đảm bảo cho khoản vay trên Ngân hàng và bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã ký hợp đồng thế chấp số: 186062.23.355.7846930.BĐ ngày 03/8/2023. Tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 176, tờ bản đồ 03, diện tích 186 m², địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 249976, Số vào sổ cấp GCN QSD đất CS CH 00360 do UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 27/5/2011 mang tên hộ ông Phạm Văn C. Tài sản này được bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H. Việc toà án thẩm định, đo đạc thửa đất có hình thể thay đổi so với giấy chứng nhận và diện tích có giảm đi,

Nay Ngân hàng đề nghị toà án xử lý tài sản theo hiện trạng quyền sử dụng dụng, việc diện tích đất giảm Ngân hàng không có ý kiến gì.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng số 0001.23.355.7846930.TD ngày 03/08/2023, hợp đồng thẻ tín dụng và văn bản tín dụng kèm theo, Ngân hàng đã giải ngân cho bên vay đủ số tiền theo những văn bản nhận nợ đã ký kết.

Tính đến ngày 29/9/2025 ông C, bà H chưa thanh toán cho Ngân hàng được đồng tiền gốc, lãi nào cho Ngân hàng. Dư nợ của bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn C đến ngày 29/9/2025 là: Nợ gốc: 2.549.985.613 đồng (Trong đó nợ gốc theo hợp đồng cho vay là 2.500.000.000đồng, nợ gốc thẻ tín dụng là 49.985.613 đồng); Nợ lãi quá hạn của hợp đồng cho vay là: 282.082.193 đồng. Nợ lãi của thẻ tín dụng là: 21.656.235 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 2.853.724.041 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng yêu cầu ông C, bà H trả khoản phí quá hạn đối với khoản thẻ tín dụng là 6.606.783 đồng và lãi dự thu là 1.292.710 đồng, tuy nhiên tại phiên toà Ngân hàng đã tự nguyện rút các yêu cầu này.

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, có văn bản, công văn yêu cầu Bên vay trả nợ và bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng TMCP Q1 xử lý theo đúng quy định nhưng Bên vay đều không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Trung tâm xử lý nợ của Ngân hàng đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên liên quan theo đúng quy định. Như vậy, Bên vay đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thoả thuận theo các Hợp đồng tín dụng và các văn bản, giấy tờ khác có liên quan đã ký với MB.

Nay Ngân hàng Yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền đến ngày đến ngày 29/9/2025 là: Nợ gốc: 2.549.985.613 đồng (Trong đó nợ gốc theo các hợp đồng cho vay là 2.500.000.000đồng, nợ gốc thẻ tín dụng là 49.985.613 đồng); Nợ lãi quá hạn của hợp đồng cho vay là: 282.082.193 đồng. Nợ lãi của thẻ tín dụng là: 21.656.235 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 2.853.724.041 đồng; và lãi phát sinh trên số nợ gốc của hợp đồng cho vay và các văn bản nhận nợ theo mức lãi suất quá là hạn 9,75%/năm; và lãi suất quá hạn của thẻ tín dụng là 36,25%/năm kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, không yêu cầu trả lãi phạt chậm trả lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu Cơ quan

Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho MB, các tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 176, tờ bản đồ 03, diện tích 186 m², địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; mục đích sử dụng: Đất ở đô thị: 186 m² theo Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 249976, Số vào sổ cấp GCN QSD đất CS CH 00360 do UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 27/05/2011 mang tên hộ ông Phạm Văn C theo hợp đồng thế chấp số: 186062.23.355.7846930.BĐ ngày 03/08/2023. Việc toà án thẩm định, đo đạc thửa đất có hình thể thay đổi và diện tích có giảm đi so với giấy chứng nhận, Ngân hàng không có ý kiến gì về sự thay đổi này; trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi vốn, Ngân hàng đồng ý với diện tích và hình thể thay đổi tại thời điểm phát mại tài sản.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn C đối với Ngân hàng TMCP Q1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn C vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng MB.

Về chi phí thẩm định và án phí bị đơn phải chịu theo quy định, về chi phí đăng báo Ngân hàng xin chịu theo quy định.

Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về việc tống đạt các văn bản tố tụng đối với bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nhắn tin cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có lời khai để đưa ra quan điểm giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiêm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ phát biêu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đông xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 280, 299, 317, 318, 319, 323, 351, 463, 466 Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1. Buộc ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng M tổng số tiền phải thanh toán là: 2.853.724.041 đồng. Trong đó nợ

gốc theo hợp đồng cho vay là 2.500.000.000đồng, nợ gốc thẻ tín dụng là 49.985.613 đồng; Nợ lãi quá hạn của hợp đồng cho vay là: 282.082.193 đồng. Nợ lãi của thẻ tín dụng là: 21.656.235 đồng và lãi suất quá hạn phát sinh trên số nợ gốc của hợp đồng cho vay và các văn bản nhận nợ; và lãi suất quá hạn của thẻ tín dụng chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp ông C, bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn. Về án phí Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Việc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa: Trong thời hạn giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản nêu quan điểm của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Ông C, bà H và gia đình chưa làm thủ tục chuyển khẩu đi nơi khác. Tòa án đã tiến hành niêm yết, nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng để ông C, bà H và gia đình về Tòa án giải quyết việc Ngân hàng khởi kiện nhưng ông bà không đến Tòa án làm việc theo thông báo của Tòa án. Theo quy định tại 6 điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015; Điều 5, điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì trường hợp người bị kiện, thay đổi nơi cư trú, làm việc ... mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Trước khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục để giải quyết vắng mặt ông C, bà H, anh Đ, chị B theo quy định của pháp luật. Do vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng tuy nhiên tại phiên tòa nguyên đơn xuất trình giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của hộ gia đình ông Phạm Văn C đồng thời Ngân hàng TMCP Q1 cũng có đăng ký kinh doanh

và mục đích vay của bị đơn để thanh toán các chi phí phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy HĐXX xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại xã Y, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H tại Tòa án nhân dân khu vực 10- Phú Thọ là phù hợp và Tòa án nhân dân khu vực 10- Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đối với Hợp đồng cho vay số 0001.23.355.7846930 .TD ngày 03/08/2023 và văn bản tín dụng kèm theo, Ngân hàng đã giải ngân cho bên vay đủ số tiền theo những văn bản nhận nợ đã ký kết với tổng số tiền là 2.500.000.000 đồng. Đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ, dịch vụ ngân hàng số dành cho khách hành là cá nhân số hợp đồng: 02618200252110, mã khách hàng 7846930 ngày 27/11/2022; cho Khách hàng là Nguyễn Thị H, quá trình sử dụng thẻ đã sử dụng số tiền là 49.985.613 đồng giữa Ngân hàng và ông Phạm Văn C, bà Nguyễn Thị H cụ thể:

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 0001.23.355.7846930.TD ngày 03/08/2023; theo văn bản nhận nợ số LD2415595869 Ngân hàng đã giải ngân cho ông C và bà H số tiền 1.000.000.000 Đồng vào ngày 03/6/2024 với lãi suất ưu đãi trong 06 tháng đầu là 6,5%/năm, thời hạn trả nợ là 03/12/2024; mục đích vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, lãi suất nợ gốc quá hạn là 150/% lãi trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm.

Theo văn bản nhận nợ số LD241563670 Ngân hàng đã giải ngân cho ông C và bà H số tiền 1.500.000.000 đồng vào ngày 04/6/2024 với lãi suất ưu đãi trong 06 tháng đầu là 6,5%/năm, thời hạn trả nợ là 04/12/2024; mục đích vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, lãi suất nợ gốc quá hạn là 150/% lãi trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm.

Đơn đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ, dịch vụ ngân hàng số dành cho khách hành là cá nhân số hợp đồng: 02618200252110, mã khách hàng 7846930 ngày 27/11/2022; cho Khách hàng là Nguyễn Thị H, quá trình sử dụng thẻ đã sử dụng số tiền là 49.985.613 đồng; các

bên thoả thuận lãi suất quá hạn là 145% lãi suất cho vay thẻ tín dụng thông thường.

[2.2] Xét thấy hợp đồng cho vay và mở thẻ tín dụng được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, nội dung thỏa thuận giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; thỏa thuận về lãi suất và cách tính tiền lãi vay được ghi nhận trong hợp đồng, văn bản nhận nợ là phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể: Khoản 2, khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, quy định về lãi suất cho vay và cách tính tiền lãi vay; khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định về lãi suất nợ lãi chậm trả. Như vậy, Hợp đồng cho vay số 0001.23.355.7846930.TD ngày 03/08/2023; và các văn bản nhận nợ kèm theo và Đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ, dịch vụ ngân hàng số dành cho khách hành là cá nhân đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên ngay sau khi ký kết hợp đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông C, bà H đã thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, không trả được khoản nợ gốc, nợ lãi nào, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay đã ký kết, dịch vụ sử dụng thẻ tín dụng, kể từ ngày 17/7/2024 không thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nào, ông C, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi do lỗi hoàn toàn thuộc về bên vay.

Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N yêu cầu ông C, bà H phải trả cho Ngân hàng số Nợ gốc theo hợp đồng cho vay là: 2.500.000.000 đồng, lãi quá hạn: 282.082.193 đồng, là phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng”.

Đối với nợ thẻ tín dụng gốc là: 49.985.613 đồng; lãi quá hạn là: 21.656.234 đồng. Theo khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 19/2016/TT-NHNNđược sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 30/2016/TT-NHNNThông tư 26/2017/TT-NHNNThông tư 41/2018/TT-NHNNThông tư 28/2019/TT-NHNNThông tư 22/2020/TT-NHNNThông tư

17/2021/TT-NHNNđịnh về hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Căn cứ vào các quy định nêu trên thì lãi suất khi sử dụng thẻ tín dụng, phí phạt khoản nợ quá hạn (nếu có) sẽ căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ giữa khách hàng và tổ chức tín dụng đã ký kết. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N yêu cầu ông C, bà H phải trả cho Ngân hàng số tiền dư nợ thẻ là 49.985.613 đồng; lãi quá hạn là: 21.656.234 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng yêu cầu ông C, bà H trả khoản phí quá hạn đối với khoản thẻ tín dụng là 6.606.783 đồng và lãi dự thu là 1.292.710 đồng, tuy nhiên tại phiên toà đại diện Ngân hàng đã tự nguyện rút các yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Xét đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc ông C, bà H tiếp tục thanh toán số tiền lãi suất quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán và lãi suất quá hạn của thẻ tín dụng kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nêu trên:

Trong hợp đồng cho vay, các văn bản nhận nợ và hợp đồng mở thẻ tín dụng các bên đã ký kết có thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do ông C, bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ. Tại phiên toà đại diện ngân hàng yêu cầu ông C, bà H phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay và các văn bản nhận nợ với mức lãi suất là 150% lãi suất trong hạn (150% x 6,5%) là 9,75%/năm. Đối với Đơn đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ, dịch vụ ngân hàng số dành cho khách hành là cá nhân các bên thoả thuận lãi suất quá hạn là 145% lãi suất cho vay thẻ tín dụng thông thường (25%) là 36,25%/năm kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong là phù hợp theo quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm nên được chấp nhận.

Đối với lãi phạt chậm trả lãi Ngân hàng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Xét Hợp đồng thế chấp áp dụng đối với tài sản là bất động sản số 186062.23.355.7846930.BĐ ngày 03/08/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Phạm Văn C, bà Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn Đ, chị Phạm Thị B:

Để bảo đảm cho khoản vay tại các hợp đồng cho vay, ông Phạm Văn C, bà Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn Đ, chị Phạm Thị B đã tự nguyện thế chấp tài sản là Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 176, tờ bản đồ 03, diện tích 186 m², địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, TT Y, tỉnh Vĩnh Phúc,

mục đích sử dụng: Đất ở đô thị: 186 m² theo Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 249976, Số vào sổ cấp GCN QSD đất CS CH 00360 do UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 27/05/2011 mang tên hộ ông Phạm Văn C. Mục đích ông C, bà H, anh Đ, chị B ký các hợp đồng này để đảm bảo cho số tiền vay tại Ngân hàng và việc ký kết là tự nguyện do đó các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Vì vậy trường hợp bên vay không trả nợ, N hành có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án bán phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Qua xem xét thẩm định diện tích của thửa đất số 176, tờ bản đồ 03, diện tích 186 m², địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc C, bà H, anh Đ, chị B thế chấp cho Ngân hàng là 179,0m², giảm 7,0 m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tổng diện tích đất được giới hạn bởi các mốc 1,A,B,4,5,7,8,1 (có sơ đồ kèm theo) đất đã được phân định ranh giới với các thửa liền kề bằng tường nhà và tường bao loan, lán tôn bao quanh thửa đất, gia đình ông C, bà H sử dụng đất ổn định, không tranh chấp với các hộ liền kề. Trên đất còn có 01 nhà 03 tầng xây dựng kiên cố bằng tường gạch, bê tông cốt thép; phía trước nhà có 01 lán lợp tôn; tường bao phía trước nhà xây gạch; Phần đất trống giáp nhà 03 tầng xây 01 lán tôn khung thép có tầng gác lửng; phía trước có cổng ra vào, 02 trụ cổng, 02 cánh cổng bằng tôn, tường bao loan, toàn bộ tài sản được xây dựng trước khi ký kết hợp đồng thế chấp với Ngân hàng, từ khi thế chấp đến nay thửa đất không xây dựng công trình mới, sửa chữa, kiến thiết gì thêm.

Đối với các hộ giáp ranh liền kề, Tòa án đã xác minh và lấy lời khai, cũng như thu thập hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ của 1 số hộ liền kề đều thể hiện đất không có biến động, không tranh chấp, các hộ liền kề không có tranh chấp gì về mốc giới thửa đất và đều đề nghị tôn trọng hiện trạng do các bên đã sử dụng từ lâu. Vì vậy, khi thẩm định việc thửa đất có thay đổi 1 phần về hình thể và diện tích giảm hơn so với giấy chứng nhận QSDĐ được cấp là do quá trình sử dụng khi đo đạc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông C vào năm 2011 có phần sai số và hình thể không đúng so với hiện trạng sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Nguyên đơn không có yêu cầu gì. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, các hộ liền kề giáp ranh không có ý kiến gì về ranh giới các thửa đất nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ cần được chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng TMCP N2 đã nộp số tiền 6.800.000 đồng chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ đối với

tài sản thế chấp. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải nộp. Bị đơn phải nộp chi phí xem xét thẩm và đo đạc theo quy định của pháp luật. Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại số tiền này cho Ngân hàng nên cần buộc bị đơn phải trả Ngân hàng chi phí nêu trên.

[4] Về chi phí đăng báo: Ngân hàng tự nguyện chịu, không yêu cầu tòa án xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc ông C, bà H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 2.853.724.041 đồng là (72.000.000 đồng + 2% x 853.724.041 đồng) = 89.074.480 đồng (làm tròn 89.074.000 đồng).

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 280, 299, 317, 318, 319, 323, 351, 463, 466 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.

Buộc ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số tiền gốc, lãi tính đến ngày 29/9/2025 tổng là 2.853.724.041 đồng (Hai tỷ tám trăm năm mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng).

Trong đó: Nợ gốc theo hợp đồng vay là: 2.500.000.000 đồng, lãi quá hạn: 282.082.193 đồng; nợ gốc thẻ tín dụng là: 49.985.613 đồng; lãi quá hạn là: 21.656.235 đồng theo các hợp đồng cho vay, văn bản nhận nợ và đơn đề nghị hợp đồng sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán, thẻ dịch vụ Ngân hàng số mà các bên đã ký kết.

Kể từ ngày 30/9/2025, ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán của hợp đồng cho vay là 2.500.000.000 đồng với mức lãi suất quá hạn là 9,75%/năm và khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán của thẻ tín dụng là 49.985.613 đồng với lãi suất quá hạn là 36,25%/năm cho đến khi thanh toán xong.

Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp áp dụng đối với tài sản là bất động sản số 186062.23.355.7846930.BĐ ngày 03/08/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Phạm Văn C, bà Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn Đ, chị Phạm Thị B để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận thì thửa đất có diện tích là 186,0m² tại thửa đất số 176 (nay là thửa số 660), tờ bản đồ 03 (nay là tờ bản đồ số 59), địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là TDP 2 Đoài, xã Y, tỉnh Phú Thọ; mục đích sử dụng: Đất ở đô thị: 186,0 m² theo Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 249976, Số vào sổ cấp GCN QSD đất CS CH 00360 do UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 27/05/2011 mang tên ông Phạm Văn C. Thửa đất theo hiện trạng thực tế có diện tích là 179,0 m² được giới hạn bởi các mốc 1,A,B,4,5,7,8,1 (có sơ đồ kèm theo).

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Q1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ phải tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1.

2. Về án phí: Ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H phải nộp 89.074.000 đồng (T4 mươi chín triệu, không trăm bảy mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 42.970.000đồng (Bốn mươi hai triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) tại biên lai số 0003730 ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc nay là Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

3. Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số tiền 6.800.000 đồng (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 10;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP-HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tuấn Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/KDTM - ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng MB khởi kiện đòi tiền H và C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger