Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------*----------

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 29/10/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sướng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Thế Việt, ông Nguyễn Hữu Minh

- Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Quang Thiên -Thư ký TAND huyện Lương Tài

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

ông Đỗ Tá Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 02/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 16/10/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân Đ - sinh năm 1986; Nơi cư trú: khu phố Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn H sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T sinh năm 1960; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đặng Thị L sinh năm 1986; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B – phân trại tạm giam T.

  2. Phan Văn P - sinh năm 1998; Nơi cư trú: xóm T, xã Đ, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên bố: Phan Văn H1 sinh năm 1970; Họ và tên mẹ: Phạm Thị L1 sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B.

  3. Nguyễn Trọng T1 - sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn T, phường T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên bố: Nguyễn Trọng G sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Phạm Thị L2 sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hoàng Thị Đ1 sinh năm 1999; Con: có 01 con, sinh năm 2019.

    Tiền án: Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Trọng T1 11 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngày 02/4/2025, T1 chấp hành xong hình phạt tù.

    Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 16/01/2024, Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi gây rối trật tự công cộng. Hiện T1 chưa nộp tiền phạt.

    Nhân thân: Ngày 11/8/2014, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số 01/QĐ-TA thời hạn 06 tháng về hành vi trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. T1 chấp hành xong Quyết định xử lý hành chính ngày 18/02/2015 tại Trường G1 – Cục C1 – Bộ C2.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B – phân trại tạm giam T..

  4. Phạm Tuấn A sinh năm 2000; Nơi cư trú: tổ dân phố A, phường T, TP Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên bố: Phạm Văn T2 sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B – Phân trại tạm giam T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 05 giờ 00 phút ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại phòng VIP 2, quán K2 thuộc khu phố G, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn G, xã L, tỉnh Bắc Ninh) do Nguyễn Xuân Đ là chủ quán, tổ công tác của phòng PC04 Công an tỉnh B chủ trì phối hợp với Công an thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là công an xã L, tỉnh Bắc Ninh) kiểm tra phát hiện các đối tượng gồm: Nguyễn Xuân Đ; Nguyễn Trọng T1, Phan Văn P, Lê Thị Ngọc H2 sinh ngày 26/8/2009, nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh); Phạm Thị Thúy H3, sinh ngày: 24/7/2008, nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là Ấp D, xã T, tỉnh An Giang); Tòng Thị Minh H4, sinh ngày: 09/5/2009, nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La (nay là bản T, xã M, tỉnh Sơn La) đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • Thu trên mặt bàn trong phòng Vip 2 có 01 (Một) đĩa sứ màu trắng, trên mặt có chất bột màu trắng, 01 (Một) thẻ Căn cước công dân mang tên Đinh Thị T3, sinh năm 2003, nơi cư trú: Bản N, xã G, huyện P, tỉnh Sơn La (nay là Bản N, xã G, tỉnh Sơn La), 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền 10.000 đồng, trên mặt thẻ căn cước và ống hút có bám dính chất bột màu trắng. Tổ công tác đã cho chất bột màu trắng trên mặt đĩa vào một túi nilon màu trắng rồi cho vào phong bì ký hiệu M1 niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Cho đĩa sứ màu trắng, thẻ căn cước và ống hút vào túi nilon màu trắng ký hiệu M3 niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

  • - Tổ công tác phát hiện trên mặt bàn trong phòng VIP 2 có một túi nilon màu trắng bên trong bám dính chất bột màu trắng. Tổ công tác cho túi nilon màu trắng bên trong bám dính chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu M2 niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

  • - 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.

Ngoài ra cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax gắn sim số 0998.833.366 của Điển, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus gắn sim số 0362.476.635 của T1, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax gắn sim số 0335.613.315 của P.

Sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Xuân Đ; Nguyễn Trọng T1; Phan Văn P để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình bắt quả tang cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra mẫu nước tiểu của Đ, P, T1, H2, H3, H4. Kết quả: các mẫu nước tiểu đều dương tính với chất ma túy MDMA và Ketamine.

Cùng ngày 21/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Văn P: không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 21/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu phòng K3 Công an tỉnh B giám định đối với chất bột màu trắng thu giữ trong các phong bì niêm phong M1, M2, M3.

Ngày 23/5/2025, Phòng K3 Công an tỉnh B ban hành kết luận giám định số 1091/KL-KTHS, kết luận giám định:

“Chất bột màu trắng bên trong túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 0,3246 gam, là ma túy, Loại ma túy Ketamine.

Chất bột màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định, là ma túy, Loại ma túy Ketamine; Không xác định được khối lượng;

Chất bột màu trắng bám dính trên 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ căn cước công dân, 01 ống hút quấn bằng tờ tiền 10.000 đồng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, Loại ma túy Ketamine; Không xác định được khối lượng;”

* Ketamine là các chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất./.*

Ngày 25/5/2025, Phạm Tuấn A, sinh năm 2000, nơi cư trú: tổ dân phố A, phường T, thành phố T, TP Hải Phòng (nay là tổ dân phố A, phường T, thành phố Hải Phòng), đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra (Phòng PC04) Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với Phan Văn P vào ngày 13/4/2025.

Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra mẫu nước tiểu của Tuấn A. Kết quả: mẫu nước tiểu của Tuấn A âm tính với chất ma túy

Kết quả kiểm tra điện thoại của Đ và T1 thấy lịch sử cuộc gọi đã bị xóa, không phát hiện tin nhắn, hay cuộc gọi nào. Kiểm tra điện thoại của P phát hiện trong tài khoản zalo có nội dung cuộc nói chuyện giữa P và Tuấn A ngày 12/4/2025 và ngày 13/4/2025.

Tiến hành sao kê tại ngân hàng A1, chi nhánh tỉnh B xác định: ngày 13/4/2025, Phan Văn P đã chuyển tới tài khoản Hoang Thi T4 Ha 02 lần với số tiền cụ thể là 2.800.000 đồng và 800.000 đồng

Với nội dung trên, Cáo trạng số 50/CT - VKS ngày 30/09/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Nguyễn Trọng T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố Phạm Tuấn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận: Tối ngày 12/4/2025, tại quán K2, Phan Văn P là quản lý và Nguyễn Xuân Đ là chủ quán Karaoke 568 có bàn bạc với nhau mua một chỉ ma túy ke và hai viên ma túy kẹo để cất đi khi nào có việc thì cùng nhau sử dụng.

Do Phan Văn P có quen biết với Phạm Tuấn A từ khoảng tháng 6 năm 2024 nên khoảng 20 giờ 29 phút ngày 12/4/2025, Phan Văn P sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax gắn sim số 0335.613.315 gọi điện thoại qua phần mềm zalo cho điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 promax gắn sim số 0353.512.495 của Phạm Tuấn A để hỏi mua của Phạm Tuấn A một chỉ ma túy ke và hai viên ma túy kẹo. Phạm Tuấn A đồng ý rồi tắt máy. Sau đó, Phạm Tuấn A điện qua Z hỏi Phan Văn P mang ma túy đến đâu thì P bảo mang ma túy xuống quán K2 cho P, Phạm Tuấn A đồng ý và nói một chỉ ma túy ke giá 1.400.000 đồng, hai viên ma túy kẹo giá 800.000 đồng và 400.000 đồng trả tiền xe đi lại. Đến 03 giờ 07 phút ngày 13/4/2025, Phạm Tuấn A nhắn tin qua Zalo cho Phan Văn P nội dung: “Giờ em xuống nhé” thì P trả lời: “Ok em” rồi gửi cho Tuấn A vị trí của P, Tuấn A trả lời: “OK rồi anh, nửa tiếng”. Đến 03 giờ 45 phút cùng ngày 13/4/2025, Tuấn A đến cửa quán 568 thì Tuấn A gọi điện cho P thông báo là đã đến nơi thì P ra mở cổng rồi đưa Tuấn A vào phòng ngủ ở bên trái của quán hướng từ ngoài vào. Khi vào phòng thì Tuấn A thấy trong phòng có Nguyễn Xuân Đ là chủ quán đang ngồi trong phòng, Tuấn A và P lên giường ngồi cùng Đ. Ngay sau đó, Tuấn A lấy từ trong túi quần bên trái phía trước

đang mặc ra một túi nilon màu trắng bên trong chứa hai viên nén màu xám là ma túy kẹo cùng một túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng là ma túy Ketamine để lên giường và nói với P: “Ma túy đây”, lúc đó Đ nhìn vào túi ma túy nhưng không nói gì. P cầm túi ma túy và thỏa thuận với Tuấn A, trả trước Tuấn A số tiền 1.800.000 đồng gồm 1.400.000 đồng một chỉ ma túy K (Ketamine) và 400.000 đồng là tiền đi lại, nợ 800.000 đồng tiền ma túy kẹo (ma túy MDMA), hẹn hôm sau P sẽ trả Tuấn A nốt số tiền nợ. Tuấn A đồng ý và giơ mã QR ngân hàng của bạn là Hoàng Thị Thu H5 sinh năm 2006, nơi cư trú: thôn K, xã K, tỉnh Lào Cai mở tại Ngân hàng A1 mà Tuấn A đang quản lý và sử dụng cho P quét mã để P chuyển tiền vào. Sau đó, P chuyển cho Tuấn A số tiền 2.800.000 đồng (trong đó 1.800.000 đồng tiền mua bán ma túy và 1.000.000 đồng tiền P cho Tuấn A vay có việc riêng). Sau khi nhận được tiền thì Tuấn A đi ra xe ta xi đi về, P mang túi ma túy vừa mua được dấu vào trong tủ âm thanh tại phòng Vip 2 của quán K2. Sáng ngày 13/4/2025, Đ sử dụng điện thoại Iphone 11 Promax gắn sim số 0998.833.366 chuyển khoản cho P số tiền 800.000 đồng để P trả Tuấn A tiền 02 viên ma túy kẹo. Đến 12 giờ 35 phút ngày 13/4/2025, P tiếp tục dùng điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax gọi vào điện thoại của Tuấn A và bảo Tuấn A gửi mã QR Ngân hàng để P trả Tuấn A số tiền 800.000 đồng, tiền nợ mua ma túy. Sau đó, Tuấn A gửi số tài khoản 2602281037752 mở tại Ngân hàng A1 chủ tài khoản là Hoàng Thị Thu H5 do Tuấn A đang quản lý và sử dụng qua Zalo cho P. Sau khi, P chuyển khoản thành công cho Tuấn A số tiền 800.000 đồng thì P chụp lại ảnh màn hình đã chuyển khoản thành công gửi qua Zalo cho Tuấn A.

Rạng sáng ngày 21/5/2025, khi P và Đ đang ở quán K2 thì Đ nói với P: “Hôm nay anh buồn, bỏ đồ ra chơi”, P biết là Đ bảo P bỏ số ma túy mua được trước đó (ngày 13/4/2025) ra để sử dụng nên P nói với Đ: “Có một ít cất đi để lúc nào có việc thì dùng”, thì Đ nói: “Hôm nay anh buồn”. P hiểu là Đ muốn sử dụng ma túy nên đồng ý.

Sau đó, P vào phòng Vip2 của quán Karaoke bật nhạc, rồi bảo H4 là nhân viên mới đến quán thử việc, còn Đ bảo H2 nhân viên mới đến quán thử việc vào phòng Vip2 để cùng sử dụng ma túy. Khi thấy phòng VIP 2 bật nhạc, T1 và Huỳnh cùng nhau đi vào phòng VIP2. Ở trong phòng VIP2, Đ và H2 ngồi ở ghế giữa của phòng, P và H4 ngồi ở ghế quay lưng ra cửa phòng, T1 và Huỳnh N ở ghế quay mặt ra cửa phòng. Sau đó, P đi ra tủ đựng âm ly của phòng Vip 2, lấy túi ma túy cất giấu từ ngày 13/4/2025 mang ra quầy lễ tân của quán, P ra giá để bát lấy một đĩa sứ màu trắng mang vào quầy lễ tân dùng bật lửa ga hơ nóng đĩa lên rồi đổ hết chất bột màu trắng trong túi là ma túy Ke lên mặt đĩa, còn hai viên ma túy kẹo P vẫn để trong túi nilon, P dùng thẻ căn cước mang tên Đinh Thị T3 do P nhặt được trước đó để ở quầy lễ tân, đảo đều số chất bột trên mặt đĩa lên gọi là xào ke, xào ke xong P chia thành các đường ke nhỏ và lấy một ống hút được quấn bằng tờ tiền 10.000 đồng có từ trước ở quầy lễ tân để lên mặt đĩa. Sau đó P cầm túi nilon chứa hai viên ma túy kẹo và đĩa ma túy K cùng các dụng cụ sử dụng ma túy đi vào phòng Vip 2. P để đĩa ma túy K lên bàn rồi lấy một viên ma túy kẹo cho vào miệng của

mình sử dụng bằng cách uống. Túi nilon bên trong chứa các mảnh ma túy kẹo còn lại P đưa cho Đ, Đ nhận túi ma túy kẹo xong lấy một mảnh cho vào miệng của mình uống với nước, sử dụng ma túy kẹo xong Đ lấy một mảnh ma túy kẹo nhét vào miệng của H2 và bảo H2 uống với nước. Lúc này H4 nhìn thấy trên bàn có đĩa ma túy ke nên đã đi ra chỗ để đĩa ma túy ke và tự hít một đường vào mũi của mình. Sau đó, Đ đưa cho T1 và H3 mỗi người một mảnh ma túy kẹo, T1 và H3 đều sử dụng bằng cách uống. Khoảng 10 phút sau P bê đĩa ma túy ke lên trước mặt Đ và nói: "Anh chơi đi", Đ biết là P mời mình sử dụng ma túy ke nên cầm ống hút hít hai đường ke vào mũi của mình, Đ sử dụng ma túy ke xong thì P tự hít ba đường ke vào mũi của mình rồi để đĩa ma túy ke xuống bàn. Khoảng 5 phút sau T1 đi ra chỗ để đĩa ma túy ke và cầm ống hút tự sử dụng, sử dụng ma túy ke xong T1 bê đĩa ma túy ke lên trước mặt Đ mời Đ sử dụng thì Đ cầm ống hút hít hai đường ke, sử dụng ma túy ke xong Đ cầm đĩa ma túy ke mời H2 sử dụng thì H2 cầm ống hút hít ba đường ke vào mũi của mình, H2 sử dụng ma túy xong thì Đ để đĩa ma túy xuống bàn. Ngay sau đó T1 bê đĩa mời H3 sử dụng thì H3 cầm ống hút hít ba đường ke vào mũi của mình. Sử dụng ma túy xong tất cả cùng nhau nghe nhạc đến khoảng 05 giờ 00 ngày 21/5/2025 thì bị tổ công tác của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an thị trấn T vào phòng VIP2 kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang

Bị cáo Đ, P xác định các bị cáo góp tiền mua ma túy của Tuấn A sau đó chuẩn bị dụng cụ để cho các đối tượng Nguyễn Trọng T1, Lê Thị Ngọc H2 sinh ngày 26/8/2009; Phạm Thị Thúy H3, sinh ngày: 24/7/2008; Tòng Thị Minh H4, sinh ngày: 09/5/2009, sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng không oan sai gì.

Bị cáo T1 xác định bị cáo đã chuẩn bị ma túy trên đĩa để đưa cho Đ và H3, sinh ngày 24/7/2008 sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát Khu vực 9 - Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm là đúng không oan sai gì.

Bị cáo Tuấn A xác định bị cáo có hành vi mua ma túy về bán cho Phan Văn P kiếm lời là vi phạm pháp luật. Viện kiểm sátKhu vực 9- Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng không oan sai gì.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi xét hỏi đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, phân tích tính chất mức độ, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo và khẳng định Cáo trạng truy tố các bị cáo trước Toà là có căn cứ pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P và Nguyễn Trọng T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Phan Văn P từ 8 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ 8 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2025.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T1 từ 8 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2025.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung năm 2017;Điều 4 luật sử đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2025,

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 26 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/05/2025. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đến 10.000.000 đồng thu nộp ngân sách nhà nước

b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong ký hiệu PS1 23010472 được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu tròn màu đỏ của phòng K3 - Công an tỉnh B, bên trong có vỏ đựng mẫu vật, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ căn cước công dân và toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định gồm 0,2553 gam chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; Sim điện thoại số 0998.833.xxx, 0335.613.315;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phong bì thư được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu tròn màu đỏ của phòng K3 - Công an tỉnh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax của Đ, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax của P.

Truy thu đối với bị cáo Phạm Tuấn A số tiền 2.600.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus gắn sim số 0362.476.635 của T1 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án

c) Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Nguyễn Trọng T1, Phạm Tuấn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo.

Khi được nói sau cùng các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo Đ, P, T1, Tuấn A tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh B về số ma tuý thu giữ. Do đó đã có đủ cơ sở để xác định: Ngày 12/4/2025 Phan Văn P là quản lý và anh Nguyễn Xuân Đ là chủ quán K2 có bàn bạc với nhau mua một chỉ ma túy ke và hai viên ma túy kẹo để cất đi khi nào có việc thì cùng nhau sử dụng. Sau khi thống nhất xong, khoảng 20 giờ 29 phút ngày 12/4/2025, Phan Văn P điện thoại qua phần mềm zalo cho Phạm Tuấn A hỏi mua của Phạm T5 một chỉ ma túy Ke và hai viên ma túy kẹo, Phạm Tuấn A đồng ý. Đến 03 giờ 45 phút ngày 13/4/2025, Phạm Tuấn A mang ma túy gồm 01 chỉ ma túy Ketamine (K) và 02 viên ma túy MDMA (kẹo) đến quán karaoke 568 cho P, P đã chuyển khoản tiền mua ma túy cho Tuấn A hai lần với tổng số tiền là 2.600.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy, P cất giấu tại phòng VIP2 quán K2. Đến rạng sáng ngày 21/5/2025, Đ bảo P lấy ma túy đã mua được trước đó sử dụng thì P đã lấy ma túy ra, chuẩn bị dụng cụ, chia ma túy Ke để cho Đ, P, T1, H2 (15 tuổi, 8 tháng, 25 ngày), H3 (16 tuổi, 9 tháng, 27 ngày), H4 (16 tuổi, 12 ngày) sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy T1 có bê đĩa ma túy mời Đ và H3 sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Đ, P và T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, số người các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều trên 02 người, Những người các bị cáo cho sử dụng ma túy là H4, H3, H2 đều trên 13 tuổi, dưới 18 tuổi nên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Đ, P và T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 BLHS là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo Phạm Tuấn A đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Số lượng ma túy bị cáo mua bán là 02 viên ma túy kẹo và 01 chỉ ketamine; trọng

lượng ma túy còn lại sau khi các bị cáo Đ, P, T1 tổ chức sử dụng ma túy 0,3246 gam Ketamine nên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm vào một khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là trật tự quản lý, sử dụng chất ma tuý của Nhà nước ta. Tính chất phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Hậu quả các bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ buôn bán chất ma túy và con nghiện sử dụng ma tuý, gây mất trật tự xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy đối với hành vi này của các bị cáo cần phải xử lý với mức hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung tội phạm trên địa bàn.

Giữa bị cáo Đ và bị cáo P không có sự phân công, phân nhiệm, cấu kết chặt chẽ, các bị cáo cùng nhau góp tiền đi mua ma túy để cho các bị cáo và những người khác cùng sử dụng nên các bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp không có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Xét về vai trò của Bị cáo Đ, P, T1 trong vụ án thì thấy: Bị cáo P là người có vai trò cao nhất và tích cực nhất trong vụ án. Bị cáo cùng Đ bàn nhau góp tiền mua ma túy và chính bị cáo là người giao dịch mua ma túy của Phạm Tuấn A và cũng chính bị cáo là người cất giấu ma túy và đưa ma túy, chuẩn bị dụng cụ để cho bị cáo Đ cùng những người khác sử dụng. Bị cáo Đ có vai trò tiếp theo, bị cáo cùng P góp tiền mua ma túy và là người cho các đối tượng sử dụng trong quán KARAOKE của bị cáo. Bị cáo T1 là người có vai trò thấp hơn bị cáo Đ và bị cáo P. Bị cáo chỉ chuẩn bị ma túy trên đĩa cho Đ và H3 sử dụng.

Bị cáo Tuấn A có vai trò độc lập trong vụ án.

Về nhân thân của các bị cáo thấy: Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Phạm Tuấn A là người có nhân thân tốt, bản thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Nguyễn T6 là người có nhân thân xấu: Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Trọng T1 11 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự; Ngày 02/4/2025, T1 chấp hành xong hình phạt tùNgày 16/01/2024, Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; Ngày 11/8/2014, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số 01/QĐ-TA thời hạn 06 tháng về hành vi trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. T1 chấp hành xong Quyết định xử lý hành chính ngày 18/02/2015 tại Trường G1 – Cục C1 – Bộ C2.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Phạm Tuấn A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Trọng T1 hiện có 01 tiền án, lần phạm tội này bị coi là tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do hành vi phạm tội của mình gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi biết việc P bị bắt về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Tuấn A đã đến cơ quan Công an đầu thú nên bị cáo T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo thành người tốt.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Đ, P, T1 là những người sử dụng ma túy, cho các đối tượng khác sử dụng ma túy không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Tuấn A bị cáo mua bán ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 túi niêm phong ký hiệu PS1 23010472 được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu tròn màu đỏ của phòng K3 - Công an tỉnh B, bên trong có vỏ đựng mẫu vật, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ căn cước công dân và toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định gồm 0,2553 gam chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; Sim điện thoại số 0998.833.xxx, 0335.613.315 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phong bì thư được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu tròn màu đỏ của phòng K3 - Công an tỉnh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax của Đ, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax của P cần tịch thu sung công quỹ nhà nước:

Đối với số tiền 2.600.000 đồng ma bị cáo Phạm Tuấn A bán ma túy mà có cần truy thu sung ngân sách nhà nước ;

Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus gắn sim số 0362.476.635 của T1 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án

Các vấn đề liên quan

Đối với số ma túy Phạm Tuấn A bán cho Phan Văn P: Tuấn A khai nhận Tuấn A mua của anh Trần Văn N1, sinh năm 1995, nơi cư trú: khu T, phường V, tỉnh Bắc Ninh vào khoảng đầu tháng 4/2025 nhưng không nhớ ngày cụ thể, Tuấn A không nhớ chính xác

vị trí đã mua ma túy của N1 chỉ nhớ ở gần tòa chung cư H thuộc phường K, tỉnh Bắc Ninh vào buổi tối, tại vị trí đó không có ánh đèn đường hay loại ánh sáng nào khác soi vào, khi mua ma túy Tuấn A trả anh N1 bằng tiền mặt. Co quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ghi lời khai của Trần Văn N1: N1 khai nhận không bán ma túy cho Tuấn A. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an an tỉnh B đã tiến hành cho Tuấn A và anh N1 đối chất với nhau: Tuấn A vẫn giữ nguyên lời khai, còn anh N1 khẳng định có quen biết với Tuấn A nhưng không bán ma túy cho Tuấn A hay bất kỳ người nào khác, anh N1 bác bỏ lời khai của Tuấn A và khẳng định lời khai đó không đúng sự thật. Với tài liệu thu thập được chưa có cơ sở kết luận anh Trần Văn N1 đã bán ma túy cho Tuấn A như lời khai của Tuấn A tại cơ quan điều tra. Do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ tiến hành xử lý sau.

Đối với Nguyễn Xuân Đ là chủ quán K2 tổ chức hoạt động kinh doanh Karaoke là ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, Nguyễn Xuân Đ vẫn để quán Karaoke hoạt động khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự. Hành vi vi phạm này của Đ đã vi phạm và điểm a, khoản 4, Điều 12, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên cơ quan Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 15.000.000 đồng là có căn cứ.

Đối với Lê Thị Ngọc H2, Phạm Thị Thúy H3, Tòng Thị Minh H4 mặc dù biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng H2, H3, H4 vẫn sử dụng ma túy. Sau khi bị bắt giữ các đối tượng đã thành thật khai báo, ăn năn hối lỗi, tại thời điểm vi phạm thì H2, H3, H4 đều chưa đủ 18 tuổi. Hành vi vi phạm của H2, H3, H4 vi phạm vào khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-C ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Cơ quan Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là có căn cứ.

Đối với chị Hoàng Thị Thu H5 là chủ tài khoản số 2602281037752 mở tại Ngân hàng A1 mang tên Hoàng Thị Thu H5: bị can Tuấn A khai nhận: do Tuấn A bị mất căn cước công dân nên có nhờ bạn là chị Hoàng Thị Thu H5 mở tài khoản ngân hàng để Tuấn A quản lý và sử dụng. Ngay từ lúc mở tài khoản, Tuấn A là người giữ mã OTP của tài khoản và là người trực tiếp sử dụng tài khoản đó, còn H5 không sử dụng tài khoản này. Tuấn A sử dụng số tài khoản đó từ lúc mở đến sau khi bán ma túy cho P khoảng 10 ngày thì tài khoản bị lỗi cần chủ tài khoản xác minh lại nên Tuấn A đã trả số tài khoản đó cho H5 để xác thực, từ đó đến khi bị bắt Tuấn A không gặp lại H5. Việc Tuấn A dùng số tài khoản đó để bán ma túy cho P thì H5 không biết, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã K, tỉnh Lào Cai nhiều lần đều được cung cấp Hoàng Thị Thu H5 đã đi khỏi địa phương, hiện tại không biết H5 đang làm gì, ở đâu nên chưa có căn cứ để xử lý với Hoàng Thị Thu H5. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ tiến hành xử lý sau.

Đối với người lái xe taxi chở Tuấn A đi bán ma túy: quá trình mang ma túy đi bán Tuấn A không nói cho người lái xe taxi biết việc đi bán ma túy, Tuấn A không biết tên, tuổi, địa chỉ của người lái xe taxi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ tiến hành xử lý sau.

Đối với chị Đinh Thị T3: Quá trình điều tra, P khai nhận P nhặt được thẻ căn cước của chị Đinh Thị T3 ở ngoài đường, vị trí cụ thể P không nhớ, tiến hành xác minh tại xã G, tỉnh Sơn La xác định, chị T3 đi đâu, làm gì, gia đình và chính quyền địa phương không nắm được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

Đối với 0,3246 gam ma túy Ketamine, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B thu giữ khi bắt quả tang: Quá trình điều tra các bị can khai nhận nếu không bị lực lượng Công an bắt quả tang thì các bị can sẽ sử dụng hết. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét xử lý đối với Đ, P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Đ, P, T1, Tuấn A phải chịu án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P và Nguyễn Trọng T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Phan Văn P 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ 7 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2025.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T1 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2025.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự bổ sung năm 2017;Điều 4 luật sử đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2025;

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/05/2025. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng thu nộp ngân sách nhà nước

Áp dụng Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Nguyễn Trọng T1, Phạm Tuấn A mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong ký hiệu PS1 23010472 được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu tròn màu đỏ của phòng K3 - Công an tỉnh B, bên trong có vỏ đựng mẫu vật, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ căn cước công dân và toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định gồm 0,2553 gam chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1; 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; Sim điện thoại số 0998.833.xxx, 0335.613.315;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phong bì thư được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu tròn màu đỏ của phòng K3 - Công an tỉnh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax của Đ, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax của P.

Truy thu đối với bị cáo Phạm Tuấn A số tiền 2600.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus gắn sim số 0362.476.635 của T1 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án

Áp dụng Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Nguyễn Trọng T1, Phạm Tuấn A mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Phan Văn P, Nguyễn Trọng T1, Phạm Tuấn Amỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND KV9 – Bắc Ninh;
  • - THADS KV9 – Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán chủ toạ phiên toà

Nguyễn Xuân Sướng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger