Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:09/2025/DS-ST

Ngày 11 tháng 6 năm 2025

V/v: “Tranh chấp chia thừa kế

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Thanh.
  • Ông Trần Hoàng Hưng.
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:17/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa ngày 21 tháng 5 năm 2025; quyết định ngừng phiên tòa số 16/2025/QĐST ngày 04/6/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Hà Thị Bích H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ D, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.(Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chị H

Bà Phạm Thị Thu H1 - Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.(Có mặt).

Bị đơn: anh Hà Đức B, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Hà Đức P,sinh năm 1982,địa chỉ:Tổ A, phố Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên toà ngày 11/6/2025)
  • Chị Đinh Thị T, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo chị Hà Thị Bích H trình bày:

Bố chị là Ông Hà Đức M, sinh năm 1955 và mẹ chị H là bà Hà Thị Bích N sinh năm 1956 là vợ chồng hợp pháp, có 03 con chung là anh Hà Đức B bị đơn trong vụ án, chị H là nguyên đơn trong vụ án và anh Hà Đức P.Năm 1996 ông M và bà N ly hôn.Khi ly hôn, ông M và bà N có chia tài sản chung, theo đó bà N được chia thửa đất số 11 tờ bản đồ số 35 ở khu C, xã H có diện tích là 1013,8m2, trong đó 300m2 đất ở, 708m2 đất trồng cây lâu năm. Nguồn gốc thửa đất là của cụ Hà Văn L (bố đẻ ông M) được cấp, sau khi ông M bà N kết hôn thì cụ L cho ông M bà N, năm 1992 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà N. Năm 2014, qua kiểm tra hiện trạng thửa đất tăng diện tích 750m2, bà N đã làm thủ tục hợp thửa. Năm 2015, bà N đã làm thủ tục tặng cho anh B, chị H, anh P mỗi người một thửa, cụ thể: anh B tách thành thửa 114, tờ bản đồ số 35, diện tích 302,2m2 (trong đó có 60m2 đất ở); chị H tách thành thửa số 320, diện tích 219m2 (trong đó có 60m2 đất ở); anh P tách thành thửa 319 diện tích 223m2 (trong đó có 60m2 đất ở).Còn lại bà N làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 79, diện tích 1013,8m2 (trong đó có 120m2 đất ở), xác định là tài sản riêng của bà N. Năm 2017, bà N chết, không để lại di chúc. Năm 2022, anh B cùng vợ là chị T ra xây nhà kiên cố và sinh sống trên thửa đất này. Nay chị H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bà N để lại.

Toàn bộ phần di sản của bà N là:Diện tích 1013,8m2 (đất ở 120m22, đất trồng cây lâu năm 893,8m2) tại địa chỉ khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY164285 ngày 6/5/2015 đứng tên bà Hà Thị Bích N thì đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật. Phần thừa kế của tôi được hưởng theo quy định của pháp luật của mẹ tôi thì tôi xin nhận, tôi xin chia theo hướng phía giáp đường trục chính nội xã, phần đất trống không ảnh hưởng nhiều đến nhà và công trình trên đất của anh B chị T, tôi xin nhận bằng hiện vật và không đồng ý thanh toán bằng tiền.

Bị đơn anh Hà Đức B trình bày:

Nhất trí với trình bày của chị H về quan hệ nhân thân và nguồn gốc đất, nhất trí chia thừa kế theo pháp luật. Đây là tài sản riêng của mẹ tôi, mẹ tôi ở trên đất cho đến khi chết là năm 2017. Trước kia thửa đất đã có móng nhà của nhà cấp 4, hai gian xây tường cao tầm 3m và công trình phụ do vợ chồng tôi xây, nhà thì xây dở dang nhưng chưa sử dụng, còn công trình phụ thì đã sử dụng một phần từ năm 2016(xây năm 2016). Sau khi mẹ tôi mất, đến năm 2022, vợ chồng tôi phá đi toàn bộ móng nhà cùng ngôi nhà cũ của mẹ tôi để xây ngôi nhà kiên cố hiện nay, một phần công trình phụ đã phá đi để xây nhà kiên cố hiện nay, một phần công trình phụ hiện đang sử dụng.

Khi vợ chồng tôi xây nhà và công trình phụ trên đất thì không ai có ý kiến gì. Trước năm 2022 vợ chồng tôi ở trên thửa đất khác cạnh đó, năm 2022 thì xây nhà kiên cố trên thửa đất đang tranh chấp chia thừa kế và vợ chồng tôi cùng 3 người con ở trên đất đến nay.

Toàn bộ phần di sản của mẹ tôi là: Diện tích 1013,8m2 (đất ở 120m22, đất trồng cây lâu năm 893,8m2) tại địa chỉ khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY164285 ngày 6/5/2015 đứng tên bà Hà Thị Bích N thì nhất trí đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật. Phần thừa kế của tôi được hưởng theo quy định của pháp thì tôi xin nhận.Tôi xin chia phần thừa kế vào phần đất đã có nhà và công trình của vợ chồng tôi, nếu phần thừa kế của anh P, chị H vào phần nhà hoặc công trình phụ vợ chồng tôi đang sử dụng thì vợ chồng tôi xin giữ lại toàn bộ hiện trạng ngôi nhà, công trình trên đất và thanh toán tiền đất cho anh P, chị H.

Anh Hà Đức P trình bày:

Nhất trí với trình bày của anh B,chị H về quan hệ nhân thân, nguồn gốc đất.

Tại bản tự khai ngày 20 tháng 3 năm 2025 anh Hà Đức P có quan điểm phần thừa kế của anh P được nhận trong di sản của bà N thì anh xin nhận và tặng cho lại anh B với điều kiện: Anh B có trách nhiệm phụng dưỡng bố mẹ khi về già, có trách nhiệm trông nom, thờ cúng tổ tiên, có trách nhiệm xây dựng, tôn tạo để là nơi anh chị em, con cháu sum vầy khi gia đình có công việc, anh B không được sử dụng vào mục đích riêng như cầm cố, mua bán, chuyển nhượng cho người khác.

Chị Đình Thị T1 người có quyền lợi liên quan trong vụ án trình bày:

Chị và anh T1 kết hôn năm 2002, đối với việc tranh chấp chia thừa kế thửa đất số 79 trong vụ án này chị không có ý kiến gì vì không có quyền lợi của chị, còn tài sản gắn liền trên thửa đất là tài sản chung của chị và anh B, chị nhất trí với lời khai của anh B về tài sản chung, đề nghị Tòa án xem xét.

Các đương sự đều xác định, di sản của bà N để lại là thửa đất số 79, tờ bản đồ số 35 có diện tích 1013,8m2 (trong đó có 120m2 đất ở), xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà N gồm anh B,chị H, anh P (bố mẹ đẻ bà N chết trước bà N; ông M đã ly hôn với bà N từ năm 1996).

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 08/4/2025,các đương sự đã thoả thuận được với nhau toàn bộ vụ án, cụ thể:Anh P nhường lại xuất thừa kế cho anh B với điều kiện anh B không được chuyển nhượng, cầm cố, có trách nhiệm làm nơi thờ cúng tổ tiên. Anh B tự nguyện cho chị H thêm 10m2 đất ở để chị H có đủ diện tích đất ở để đủ điều kiện tách thửa. Tuy nhiên, sau đó anh B thay đổi quan điểm, không thoả thuận nữa mà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của phápluật. Anh P giữ nguyên quan điểm về việc cho anh B suất thừa kế; chị H đề nghị chia thừa kế và chị xin nhận bằng hiện vật, không nhận thanh toán bằng tiền, chị đề nghị được chia 220m2 trong đó có 50m2 đất ở để chị có điều kiện tách thửa, chị có nơi làm nhà cửa để mẹ con chị có chỗ về quê hương vì diện tích bố mẹ chị cho chị, do hoàn cảnh khó khăn nên chị đã chuyển nhượng cho người khác. Hiện nay, chị vẫn chưa có nhà và đất, chị vẫn đang thuê nhà để sinh sống trên thị xã S.

Ngày 07/3/2025, Toà án tiến hành thẩm định tại chỗ đối với thửa đất là di sản thừa kế của bà N. Kết quả đo đạc thực tế, diện tích còn 960,2m2 (các đương sự đều nhất trí chia thừa kế theo hiện trạng). Trên đất có xây nhà kiên cố, cây cối do anh B chị T1 tạo dựng.

Kết quả định giá: Đất ở có giá 600.000đ/m2; đất trồng cây lâu năm có giá 92.200đ/m2; Ngoài ra còn định giá công trình trên đất, cây cối, là tài sản riêng của anh B, chị T1.

Các đương sự thống nhất: Đối với số đo hiện trạng thửa đất là 960,2m2 và đối với biên bản xem xét thẩm định, định giá không có ý kiến gì. Nhất trí chia thừa kế theo số đo hiện trạng.

Tại phiên tòa ngày 11/6/2025: Anh Hà Đức P xin thay đổi quan điểm như sau: Anh P xin nhận phần di sản của bà N để lại phần của mình theo quy định của pháp luật nhưng anh tặng cho lại cho chị Hà Thị Bích H 20m2 đất ở để quản lý và sử dụng và tặng cho lại cho anh Hà Đức B 20m2 đất ở và phần đất vườn còn lại không kèm theo điều kiện gì. Về án phí và chi phí tố tụng thì chị H và anh B phải chịu thay anh. Tuy nhiên do anh B từ chối nhận phần anh Phong T2 cho, nên anh xin nhận theo quy định của pháp luật và xin được chia thừa kế bằng hiện vật.

Chị Hà Thị Bích H:Nhất trí với quan điểm của anh P và xin nhận 20m2 đất ở của anh P giao cho.Chị H vẫn xin nhận 221m2 đất bao gồm cả đất ở và đất vườn là phần đất trống, phần diện tích còn thiếu so với một xuất thừa kế chị được nhận, vì anh B chị T1 đã xây dựng nhà và công trình, thì chị H nhất trí giữ nguyên hiện trạng nhà của anh B, giao cho anh B phần diện tích của chị bị thiếu và đề nghị anh B thanh toán lại cho chị giá trị còn thiếu theo giá của Hội đồng định giá. Nếu phần di sản chị được chia vào phần tài sản của anh chị Bình Tâm xây dựng thì chị nhất trí thanh toán bằng tiền cho anh B chị T1 theo giá của Hội đồng định giá.

Anh Hà Đức B từ chối nhận phần thừa kế là 20m2 đất ở và đất vườn mà anh P có quan điểm tặng cho lại anh, anh đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, phần của anh đến đâu anh nhận đến đó. Anh B đề nghị khi chia thừa kế đảm bảo sự nguyên vẹn công trình của gia đình anh, vì khi anh và chị T1 xây dựng công trình thì không ai phản đối gì. Anh B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét công sức tôn tạo giữ gìn di sản của bà N vì trước đây mặt bằng đất cao hơn hiện trạng bây giờ, tuy nhiên anh B không nộp được các tài liệu chứng cứ cho Hội đồng xét xử và anh P, chị H không đồng ý quan điểm về công sức của anh B vì anh P, chị H đều có quan điểm là cả 3 anh em đều có công trong việc hạ thấp mặt bằng thửa đất nên 3 người đều có công sức như nhau.

Chị T1 nhất trí với quan điểm của anh B không có ý kiến gì khác.

Bà Phạm Thị Thu H1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H phát biểu quan điểm: Hoàn toàn nhất trí với quan điểm của nguyên đơn chị Hà Thị Bích H, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị H

Tại phiên tòa Kiểm sát viên pháp biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại các Điều 195, 196, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,71, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sựkhoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc đề nghị chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 79, tờ bản đồ số 35 tại khu C xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2.Xác định di sản thừa kế của bà N là thửa đất số 79, tờ bản đồ số 35 có diện tích 960,2m² giá trị là 149.466.440 đồng. Di sản thừa kế chia làm 3 phần, tương đương mỗi phần là 49.822.100 đồng

Di sản được phân chia như sau:

  • + Giao cho anh B được sử dụng di sản thừa kế là diện tích quyền sử dung đất 739,2m2 (trong đó có 60m2 đất ở và 679,2 m2 đất vườn) có chỉ giới S1 6,7,8,9,10,11,12,13,6 tổng trị giá 98.622.200 đồng.
  • Phần diện tích giao cho anh B có 119,06m2 đất vườn tương đương trị giá 10.977.300 đồng trong xuất thừa kế của chị H; có 300,06m2 (trong đó có 20m2 đất ở; 280,06m2 đất vườn) tương đương trị giá 37.821.500 đồng là xuất thừa kế của anh P sau khi trừ đi phần diện tích anh Phong T2 cho chị H. Buộc anh B thanh toán lại cho chị H, anh P trị giá như trên.
  • + Giao cho chị H sược sử dụng di sản thừa kế là diện tích quyền sử dụng đất 221m2 (trong đó có 60m2 đất ở; 161m2 đất vườn), có chỉ giới S2: 1,2,3,4,5,6,13,14,1 tổng trị giá là: 50.844.200 đồng.
  • Chị H phải thanh toán cho anh B, chị T1 trị giá phần mái tôn, sân gạch, sân bê tông trên diện tích đất giao cho chị H là: 29.644.500 đồng
  • Sau khi đối trừ chị H còn phải thanh toán cho anh B là:18.667.200 đồng.

3.Về án phí: Anh B, anh P và chị H phải chịu án phí chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà.Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là chị Hà Thị Bích H khởi kiện chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số 11 tờ bản đồ số 35, địa chỉ khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bị đơn anh Hà Đức B cư trú tại khu C, xã H. Đây là vụ án tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc áp dụng pháp luật và thời hiệu khởi kiện: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688,Tòa án áp dụng quy định của bộ luật này để xác định thời hiệu và giải quyết yêu cầu chia thừa kế.

[2]Về nội dung vụ án:

  • - Về di sản thừa kế: Các đương sự đều thống nhất thửa đất số 79, tờ bản đồ số 35 có địa chỉ tại khu C xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ có Diện tích 1013,8m2 đo đạc thực tế là 960,2m2 (đất ở 120m2, đất trồng cây lâu năm 840,2m2) tại địa chỉ khu C,xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY164285 ngày 6/5/2015 đứng tên bà Hà Thị Bích N là di sản thừa kế của bà N và thống nhất chia di sản thừa kế theo diện tích hiện trạng nên không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 92 BLDS. Kết quả Hội đồng định giá xác định giá đất ở 600.000đ/m2; đất CLN 92.200đ/m2 nên toàn bộ di sản bà N có giá trị là 149.446.440 đồng.
  • - Về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của bà N: Căn cứ tài liệu trong hồ sơ, có đủ căn cứ xác định bà N chết năm 2017, đến nay chị H khởi kiện chia di sản thừa kế của bà N, căn cứ quy định tại Điều 623 BLDS xác định thời hiệu chia di sản thừa kế của bà N vẫn còn nên yêu cầu khởi kiện của chị H về việc chia di sản thừa kế của bà N cần được chấp nhận.
  • - Những người được thừa kế của bà N: Bà N đã ly hôn, tại thời điểm bà N chết thì bố mẹ bà N đã chết trước đó nên căn cứ Điều 651 của BLDS xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà N gồm có ba người là anh B, anh P và chị H ngoài ra không có ai khác.
  • - Về việc phân chia di sản:
  • Do bà N chết không để lại di chúc nên di sản của bà N được phân chia theo quy định của pháp luật.Thời gian bà N chết năm 2017 đến năm 2022 thì anh B mới đến ở và làm nhà kiên cố trên đất, đến nay là gần 3 năm, thửa đất trước đây có thấp hơn mặt bằng hiện nay do anh B trước khi làm nhà kiên cố đã súc ủi cho thấp xuống, nhưng anh B không nộp được các tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này của mình, chị H anh P cũng đều có lời khai có công sức đóng góp trong việc cải tạo thửa đất cùng với anh B. Mặt khác từ khi anh B về ở trên đất anh B cũng được hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng quyền sử dụng đất, nên không có cơ sở để tính công sức quản lý di sản cho anh B. Khi phân chia di sản, tính toán chia cho anh B phần diện tích đất có nhà, công trình trên đất, đảm bảo sự ổn định của gia đình anh B trong quá trình sử dụng cũng là tạo điều kiện thuận lợi hơn cho anh B trong việc chia di sản thừa kế. Do có 03 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và không phải chia công sức quản lý di sản nên toàn bộ di sản của bà N được chia đều thành 3 phần cho chị H, anh B và P. Cụ thể: mỗi suất thừa kế = 960,2 m² (trong đó có 120m² đất ở và 840,2m² đất vườn): 3 = 320,06m² đất (trong đó có 40m² đất ở và 280,06m² đất vườn) đất vườn tương ứng 49.822.100 đồng.
  • Về việc phân chia di sản bằng hiện vật: Khi chia di sản thừa kế bằng hiện vật cho các đương sự cần cân nhắc đến thực trạng sử dụng đất, nhu cầu sử dụng của các đồng thừa kế để phân chia phù hợp. Xét thấy, anh B đã làm nhà kiên cố và xây dựng các công trình trên đất nên việc giao di sản thừa kế bằng hiện vật cho anh B là cần thiết. Khi khởi kiện, chị H cũng có đề nghị nhận di sản bằng hiện vật. Xét thấy trước đây các anh em nhà chị H đều được mẹ tặng cho mỗi người một thửa đất, do khó khăn chị H đã chuyển nhượng thửa đất được tặng cho và đến nay không có chỗ ở, hiện nay chị vẫn phải đi thuê nhà ở, cộng với hoàn cảnh của chị khó khăn đang điều trị bệnh hiểm nghèo, nên nhu cầu được nhận di sản bằng hiện vật của chị H để có một chỗ ở ổn định là chính đáng và cần xem xét. Tai phiên tòa chị H giữ nguyên quan điểm chỉ đề nghị xem xét chia cho chị phần đất trống bên cạnh nhà anh B khi đo đạc thực tế có diện tích là 221m2, thì so với một suất thừa kế chị H được hưởng cộng với phần anh Phong tặng cho 20m2 đất ở, còn thiếu 119,06 m2 đất vườn tương đương trị giá 10.977.300 đồng, nằm trong diện tích gia đình anh B chị T1 đã xây dựng công trình kiên cố thì chị nhất trí giao phần diện tích đó cho anh B để đảm bảo sự nguyên vẹn của nhà và công trình anh B chị T1 đang sử dụng, đề nghị anh B thanh toán bằng tiền cho chị, nếu phần di sản chị được chia vào phần công trình nào của anh chị B thì chị nhất trí thanh toán lại cho anh B chị T1 theo giá của Hội đồng định giá. Do vậy, giao phần đất trống có diện tích 221m2 cho chị H, phần còn lại giao cho anh B, là vừa đảm bảo được quyền lợi của từng người, cũng như nhu cầu sử dụng thực tế của anh B, chị H.
  • Anh Hà Đức P cũng có quan điểm xin nhận xuất thừa kế bằng hiện vật, vì phần di sản anh được thừa kế anh tặng cho anh B nhưng anh B từ chối. Xuất thừa kế của anh P sau khi trừ đi phần anh tự nguyện tặng cho chị H, còn 300,06m2(trong đó có 20m2 đất ở; 280,06 m2 đất vườn), tương đương trị giá 37.821.500 đồng.Theo quy định tại Quyết định số 16/2024/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND tỉnh P về một số nội dung về quản lý, sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, thì không đủ hạn mức tối thiểu về đất ở để tách thửa. Mặt khác, xét về nhu cầu thực tế thì hiện nay anh P cùng vợ con đang sinh sống tại thành phố V, anh P vẫn còn thửa đất ở do mẹ tặng cho gần với thửa đất tranh chấp, nên nếu trường hợp anh P có nhu cầu về quê hương để xây dựng nhà cửa thì vẫn đảm bảo đủ điều kiện. Như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, thì ngoài phần đất trống giao cho chị H, còn phần khác trong thửa đất chia thừa kế anh B chị T1 đã xây dựng nhà và công trình, do vậy giao toàn bộ phần diện tích của anh P được nhận còn lại sau khi cho tặng chị H 20m2 đất ở cho anh B quản lý sử dụng, do anh B từ chối nhận tặng cho nên anh B có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền cho anh P là phù hợp.
  • Chia cụ thể như sau:
  • -Giao cho anh B được sử dụng di sản thừa kế là diện tích quyền sử dung đất 739,2m2 (trong đó có 60m2 đất ở và 679,2 m2 đất vườn) có chỉ giới S1 6,7,8,9,10,11,12,13,6 tổng trị giá 98.622.200 đồng.
  • Phần diện tích giao cho anh B có 119,06m2 đất vườn tương đương trị giá 10.977.300 đồng trong xuất thừa kế của chị H; có 300,06m2 (trong đó có 20m2 đất ở;280,06m2 đất vườn) tương đương trị giá 37.821.500 đồng là xuất thừa kế của anh P sau khi trừ đi phần diện tích anh Phong T2 cho chị H.Buộc anh B thanh toán lại cho chị H, anh P trị giá như trên.
  • + Giao cho chị H được sử dụng di sản thừa kế là diện tích quyền sử dụng đất 221m2 (trong đó có 60m2 đất ở;161m2 đất vườn), có chỉ giới S2: 1,2,3,4,5,6,13,14,1 tổng trị giá là: 50.844.200 đồng.
  • Phần diện tích quyền sử dụng đất giao cho chị H có 29,8m2 mái tôn = 621.000đồng x 29,8m2 = 18.505.800 đồng; 46,7m2 sân gạch = 176.000₫ x 46,7m2 = 8.219.200đ, sân bê tông = 1.324.000x 2,205m3 = 2.919.402 đ. Chị H tự nguyện thanh toán cho anh B, chị T1 tổng cộng là: 29.644.402 đồng trị giá phần mái tôn, sân gạch, sân bê tông trên phần diện tích giao cho chị H, buộc chị H phải thanh toán cho anh B chị T1.
  • Sau khi đối trừ chị H còn phải thanh toán cho anh chị Bình Tâm số tiền là 18.667.200 đồng
  • Về chi phí tố tụng: Chị Hà Thị Bích H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng nên cần ghi nhận sự tự nguyện này.
  • Về án phí:Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên giá trị phần thừa kế được chia, cụ thể:Anh B chịu 2.491.100 đồng;chị H được hưởng 1 xuất thừa kế + phần anh Phong tặng cho, tổng trị giá 61.822.100 đồng, nên chị H phải chịu 3.091.100 đồng án phí; xuất thừa kế của anh P còn trị giá 37.822.100 đồng, nên anh P chịu 1.891.100 đồng án phí.

Tại phiên toà, xét đề nghị của nguyên đơn chị Hà Thị Bích H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở, xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2,5 Điều 26, điểm a, khoản 1, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào các điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sựkhoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3; Quyết định số 16/2024/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND tỉnh P. Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc đề nghị chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 79, tờ bản đồ số 35 tại khu C xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Xác định di sản thừa kế của bà N là thửa đất số 79, tờ bản đồ số 35 có diện tích 960,2m² giá trị là 149.446.440 đồng. Di sản được phân chia như sau:

  • + Giao cho anh B được sử dụng di sản thừa kế là diện tích quyền sử dung đất 739,2m2 (trong đó có 60m2 đất ở và 679,2 m2 đất vườn) có chỉ giới S1 6,7,8,9,10,11,12,13,6 tổng trị giá 98.622.200 đồng. Buộc anh B thanh toán cho anh P số tiền là: 37.821.500 đồng; Thanh toán cho chị H 10.977.300 đồng;
  • + Giao cho chị H được sử dụng di sản thừa kế là diện tích quyền sử dụng đất 221m2 (trong đó có 60m2 đất ở; 161m2 đất vườn), có chỉ giới S2: 1,2,3,4,5,6,13,14,1 tổng trị giá là:50.844.200 đồng
  • Chị H phải thanh toán cho anh B, chị T1 trị giá phần mái tôn, sân gạch, sân bê tông trên diện tích đất giao cho chị H là: 29.644.500 đồng. Sau khi đối trừ nghĩa vụ, chị H còn phải thanh toán cho anh B là:18.667.200 đồng

Anh B và chị H được quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng được phân chia như trên.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án

Nếu người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành án xong.Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3.Về chi phí tố tụng:Chị Hà Thị Bích H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) (Xác nhận chị H đã nộp đủ).

4.Về án phí:

  • - Chị Hà Thị Bích H chịu 3.091.100 đồng án phí phần di sản được nhận; Chị H được trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003563 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông). Chị H còn phải nộp tiếp số tiền: 2.791.100 đồng.
  • - Anh Hà Đức B chịu 2.491.100 đồng tiền án phí phần di sản được nhận;
  • - Anh Hà Đức P chịu 1.891.100 đồng án phí phần di sản còn lại sau khi tặng cho chị H.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thơm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị Bích H yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger