TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15-4-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Hạ Uyên
2. Bà Lê Ngọc Lan
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thạch T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 521/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Võ Thanh T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N thừa nhận chị và anh Võ Thanh T1 chung sống với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường ), thị xã (nay là thành phố) L, tỉnh Đồng Nai. Đây là lần kết hôn đầu tiên của cả hai anh chị.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Anh T1 không lo làm ăn, không quan tâm lo lắng cho gia đình, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc. Chị N nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Khoảng đầu năm 2022, chị N đã bỏ về nhà mẹ đẻ, từ đó cho đến nay vợ chồng không còn sống chung và liên lạc gì với nhau. Nay, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Võ Thanh T1.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo chị N, vợ chồng có 01 người con chung là cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013. Không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Theo chị N, tài sản chung tự thoả thuận không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về nợ chung: Theo chị N trình bày nợ chung không có.
Tại phiên tòa, bị đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 thừa nhận thời gian đăng ký kết hôn và mâu thuẫn như chị N trình bày là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng, anh T1 cho rằng mặc dù mâu thuẫn không lớn nhưng thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn kéo dài, hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống, quan tâm gì đến nhau nữa. Tuy nhiên, đối với yêu cầu ly hôn của chị N thì anh T1 không đồng ý ly hôn vì các con chung hiện nay đã lớn, không muốn con phải chịu tổn thương.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo anh T1, vợ chồng có 01 người con chung là cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của chị N. Anh T1 đồng ý giao cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013 cho chị N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, tạm thời anh T1 không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Theo anh T1, tài sản chung tự thoả thuận không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về nợ chung: Anh T1 xác nhận vợ chồng không có nợ chung.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, đảm bảo khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh T1 đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ vào Điều 21 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đồng ý việc ly hôn giữa chị N và anh T1.
- Về con chung: Bị đơn chị N có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đồng thời, cháu A có nguyện vọng sống với mẹ. Bị đơn anh T1 cũng đồng ý. Do đó, chấp nhận giao con chung cho chị N nuôi dưỡng, tạm thời anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Theo anh T1, tài sản chung tự thoả thuận không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về nợ chung: Anh T1 xác nhận vợ chồng không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Thanh T2 và tranh chấp về nuôi con là cháu Võ Ngọc An S ngày 04/4/2013. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Võ Thanh T1 có nơi cư trú tại: phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị N và anh Võ Thanh T1 được xác lập hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, do đó quan hệ hôn nhân của chị N và anh T1 là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021 do bất đồng quan điểm, anh T1 không quan tâm đến gia đình, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc. Dù chị N đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T1 không thay đổi. Từ đầu năm 2022 đến nay, hai bên đã ly thân, không còn sống chung và không có sự quan tâm, liên lạc gì với nhau.
Tại phiên tòa, anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được phương án hàn gắn, khắc phục mâu thuẫn hay chứng cứ nào thể hiện giữa hai người còn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.
Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị N là có cơ sở.
[4] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013, hiện đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy cháu còn nhỏ, việc giao cháu cho mẹ trực tiếp nuôi là phù hợp với thực tế và bảo đảm quyền lợi mọi mặt cho cháu, cháu A cũng có nguyện vọng ở cùng mẹ. Đồng thời, anh T1 cũng đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản, đồng thời xác định không có nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Chị N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó chị N phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
[9] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 69, 70, 81, 82, 83, 84 Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Võ Thanh T1
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị N và anh Võ Thanh T1 ly hôn.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Võ Ngọc A, sinh ngày 04/4/2013 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, anh T1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Tuy nhiên, nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0005717 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bà N đã nộp đủ án phí.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Chu Hạ Uyên | Hoàng Thị Đào |
| Lê Ngọc Lan | |
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ngân yêu cầu ly hôn với Nguyễn Thanh Trung
