|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày 03 - 4 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lương Thị Anh Đào.
- Ông Phan Thanh Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Liếng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Lê Bình Nguyên - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 17 tháng 03 và 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Phạm Thị Mỹ C, sinh năm 1989.
Bị đơn: Nguyễn Văn D, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Chị Phạm Thị Mỹ C và anh Nguyễn Văn D cưới nhau năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T năm 2009. Trong quan hệ hôn nhân có 01 con chung tên Phạm Thị Bích N, sinh ngày 15/6/2007. Do bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay vẫn không thể hàn gắn tình cảm được. Do đó, chị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Thị Bích N, sinh ngày 15/6/2007 đang sống với chị C và có nguyện vọng sống với chị C nên chị C yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn D không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị C và anh D được ly hôn; về con chung: giao con chung Phạm Thị Bích N, sinh ngày 15/6/2007 cho chị C nuôi dưỡng (cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N), chị C không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện T nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
- Chị Phạm Thị Mỹ C và anh Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T năm 2009. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
- Chị C yêu cầu ly hôn với anh D. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến và tại 02 lần phiên tòa sơ thẩm anh D cũng không có mặt. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị đơn là anh D đã biết việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn (niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định), nhưng bị đơn không có ý kiến, không phản đối yêu cầu của nguyên đơn và không đến theo giấy triệu tập và văn bản của Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Việc khởi kiện yêu cầu ly hôn chị C trình bày vợ chồng đã ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nay chị C thấy mục đích của hôn nhân không đạt được nên cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị C cương quyết ly hôn, anh D không có ý kiến gì về yêu cầu của chị C. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chị Phạm Thị Mỹ C theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị C và anh D có 01con chung Phạm Thị Bích N, sinh ngày 15/6/2007 đang sống với chị C, chị C có yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con và cháu N cũng có nguyện vọng sống chung với chị C nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, chị C là người khởi kiện phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Chị Phạm Thị Mỹ C và anh Nguyễn Văn D được ly hôn.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung Phạm Thị Bích N, sinh ngày 15/6/2007 cho chị Phạm Thị Mỹ C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp anh Nguyễn Văn D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Phạm Thị Mỹ C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Nguyễn Văn D.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0010265 ngày 08-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng. Chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Anh Nguyễn Văn D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Dung |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HÔN NHÂN
