Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LẠC
TỈNH CAO BẰNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày: 03-4-2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Nghiệp

Ông Dương Viết Lưu

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Mạc Thị Thời - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Sần Văn N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/8/2002 tại T - B - Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sần Văn T (sinh năm 1979) và bà Lý Thị B (sinh năm 1977); Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (nay là P trại tạm giam khu vực huyện B) từ ngày 15/12/2024 đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Sần Văn N: Ông Bế Kim T1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2024, tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng thực hiện nhiệm vụ tại Tổ dân phố D, thị trấn B, huyện B phát hiện một đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra xác định đối tượng tên Sần Văn N, sinh ngày 17/8/2002, trú tại: Xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vật chứng phát hiện và thu giữ gồm: 03 gói giấy kẻ ngang màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (Nguyên khai nhận là ma tuý); 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có 02 gói giấy kẻ ngang màu trắng đều chứa chất bột màu trắng (Nguyên khai nhận là ma tuý); 01 ví da màu xanh dương đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR X8B, số IMEI1: 865200067168302, IMEI2: 865200067214510, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, bàn giao đối tượng cùng toàn bộ vật chứng đã được niêm phong về trụ sở Công an huyện B tiếp tục điều tra theo quy định.

Mở rộng điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sần Văn N. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành cân xác định toàn bộ khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ được của Sần Văn N theo quy định. Kết quả: Số chất bột màu trắng thu giữ được của Sần Văn N có tổng khối lượng là 0,23 gam (Không phẩy hai mươi ba gam). Tại bản Kết luận giám định số 17/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận chất bột màu trắng thu giữ được của Sần Văn N là ma túy, loại Heroine (H).

Quá trình điều tra xác định như sau: Bị cáo Sần Văn N là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 3/2024. Ngày 14/12/2024 N đi xe khách từ huyện B đến B thành phố C tìm mua ma túy. Đến nơi N gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) có biểu hiện nghiện ma túy nên hỏi có bán ma túy không, người đàn ông trả lời có. N đưa cho người đàn ông số tiền 1.500.000 đồng và được đưa lại 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa ma túy loại heroine. Mua xong N đi xe

3

khách về thị trấn B, chia nhỏ ma túy thành các gói nhỏ để dễ sử dụng. Đến ngày 15/12/2024, sau khi sử dụng ma túy ở thị trấn B xong, N cất giấu ma túy ở trên người và đang đi trên đường thì bị tổ công tác Công an huyện B bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSBL ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố Sần Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Sần Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ được của bị cáo Sần Văn N (đã được niêm phong theo quy định).
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 ví da màu xanh dương đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Sần Văn N thừa nhận hành vi của mình, nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy. Bị cáo khai nhận do nghiện ma túy nên đã tìm mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.

4

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Sần Văn N trình bày: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điểm, khoản đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo như sau: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chưa có tiền án, tiền sự. Do nghiện ma túy nên bị cáo tìm mua ma túy mục đích để bản thân sử dụng. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Sần Văn N, người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

5

hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung hình phạt của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Sần Văn N thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận kết luận điều tra và bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi vi phạm pháp luật của mình. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2024, tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng kiểm tra hành chính đối với bị cáo Sần Văn N, phát hiện và thu giữ 0,23 gam (Không phẩy hai mươi ba gam) Heroine. Quá trình điều tra xác định bị cáo Sần Văn N mua ma túy mục đích để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

"Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"...

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án.

Do vậy Cáo trạng số 13/CT-VKSBL ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc truy tố bị cáo Sần Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không.

6

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng nghiện ma túy nên được coi là có nhân thân xấu.

[4] Về quyết định hình phạt:

- Về hình phạt chính: Bị cáo nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt rất nghiêm khắc loại tội phạm về ma tuý, nhưng do nghiện ma túy, để phục vụ nhu cầu của bản thân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc về mức hình phạt đối với bị cáo Sần Văn N từ 12 tháng đến 18 tháng tù là có căn cứ và phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Sần Văn N là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng, bị cáo đi chấp hành án không có điều kiện về kinh tế vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với số heroine thu giữ của bị cáo Sần Văn N là vật Nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động và 01 ví da màu xanh dương đều đã qua sử dụng thu giữ được của bị cáo xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

7

dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7] Về vấn đề khác:

Đối với nguồn gốc số heroine bị thu giữ, bị cáo Sần Văn Nguyên K được mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ, khi mua không có ai biết và chứng kiến, do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh mở rộng vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sần Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Sần Văn N 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì, mặt trước ghi “Số 17/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Sần Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau có chữ ký của những người cùng tham gia niêm phong, và đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an tỉnh C.

- Trả lại cho bị cáo Sần Văn N:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR X8B, số IMEI1: 865200067168302, IMEI2: 865200067214510, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Thời điểm giao nhận không kiểm tra được số IMEI;
  • 01 ví da màu xanh dương đã qua sử dụng.

Vật chứng trên hiện đang được lưu kho và bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 27 ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc.

8

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sần Văn N.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm, báo quyền kháng cáo bản án cho bị cáo, bị hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Văn Nghiệp Vũ Thị Hồng Thảo
Dương Viết Lưu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt BC 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger