|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HSST Ngày: 26 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Đạt
- 2. Bà Lê Thị Ngọc Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa: Ông Thái Xuân Nguyên- Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. O, sinh năm 1985 tại huyện K, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ D, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ong Thanh C và bà Đào Thị Kim P; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
2. Trịnh Văn T, sinh năm 1986 tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: Khu phố 1, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện tại: Tổ A, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T1 và bà Hồ Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ban quản lý công trình công cộng đô thị huyện K
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hoàng P1, sinh năm 1979; chức vụ: Cán bộ kỹ thuật; đại diện theo Giấy ủy quyền số 02/GUQ-CTCC ngày 10/02/2025 của Trưởng Ban quản lý công trình công cộng đô thị huyện K; địa chỉ: Tổ A, khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1. Ông Hồ Trung K, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ A, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; có mặt.
- 2. Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; có mặt.
- 3. Ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1959; địa chỉ: khu phố I, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- 4. Bà Đào Thị Kim P, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ D, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ, ngày 20/6/2024 Ong M và Trịnh Văn T đi tìm tài sản (dây điện) để trộm cắp. M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68F2-6765 chở T đi trên tuyến đường Đ - C, khi đến đoạn đường thuộc tổ F, ấp N, xã D, huyện K, tỉnh Kiên Giang, cả hai phát hiện dây điện đèn chiếu sáng loại duplex 2x10mm cadivi của Ban quản lý công trình công cộng huyện K không có người trông giữ nên T đã dùng kiềm cắt trộm 34m (ba mươi bốn mét), M lấy dây điện cuộn lại bỏ vào bao cát giấu, sau đó cả hai đi thêm một đoạn khoảng 400m thì tiếp tục cắt trộm 06m (sáu mét) và đem tất cả bán cho vựa phế liệu Phạm Văn T2 tại tổ A, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang được số tiền 1.400.000 đồng, tiêu xài cá nhân. Ngày 13/12/2024, Trịnh Văn T và Ong Minh M ra trình báo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang thu giữ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68F2-6765, màu đen đỏ, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, số khung RLCS5C640AY385964, số máy 5C64385971, đã qua sử dụng. (Bút lục số: 40, 41, 81A).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh Kiên Giang kết luận: 40m (Bốn mươi mét) cáp duplex điện lực 2x10mm cadivi (gồm 02 sợi màu trắng, đen), đã qua sử dụng có giá trị 2.280.000 đồng (Hai triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng), chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 2.280.000 đồng (Bút lục số 37, 38).
Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKSKL ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương đã truy tố các bị cáo M và T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngoài ra, các bị cáo còn cùng nhau thực hiện 02 lần trộm cắp dây điện của bị hại. Cụ thể: vào tháng 7/2024 không nhớ rõ ngày, trộm 28 mét loại dây điện duplex 2 x 10 mm, số dây điện này có giá trị 1.596.000 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 2.029.188 đồng; vào tháng 8/2024, không nhớ rõ ngày, các bị cáo lấy trộm 35 mét loại dây điện duplex 2 x 6 mm, số dây điện này có giá trị 1.172.500 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 1.989.155 đồng. Như vậy, tổng 02 lần này các bị cáo trộm cắp trị giá 2.768.500 đồng, thiệt hại chi phí thi công là 4.018.343 đồng.
Các bị cáo M, T cùng với Hồ Trung K thực hiện 02 lần trộm cắp cùng nhau. Cụ thể: vào tháng 8/2024 không nhớ rõ ngày, trộm 05 mét loại dây điện duplex 2 x 6 mm, số dây điện này có giá trị 167.500 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 284.165 đồng; vào tháng 10/2024, không nhớ rõ ngày, lấy trộm 20 mét loại dây điện duplex 2 x 6 mm, số dây điện này có giá trị 670.000 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 1.136.660 đồng. Như vậy, tổng 02 lần này cả 3 người trộm cắp tài sản trị giá 837.500 đồng, thiệt hại chi phí thi công là 1.420.825 đồng.
Bị cáo M cùng với Hồ Trung K thực hiện 02 lần trộm cắp cùng nhau. Cụ thể: vào tháng 8/2024 không nhớ rõ ngày, trộm 30 mét loại dây điện duplex 2 x 6 mm, số dây điện này có giá trị 1.005.000 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 1.704.990 đồng; vào tháng 11/2024, không nhớ rõ ngày, lấy trộm 20 mét loại dây điện duplex 2 x 10 mm, số dây điện này có giá trị 1.140.000 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 1.449.420 đồng. Như vậy, tổng 02 lần này M và K trộm cắptài sản trị giá 2.145.000 đồng, thiệt hại chi phí thi công là 3.154.410 đồng.
Bị cáo T cùng với Hồ Trung K thực hiện 03 lần trộm cắp từ tháng 7 đến tháng 9/2024, không nhớ cụ thể từng lần, chỉ nhớ tổng cộng 03 lần đó trộm được 30 mét loại dây điện duplex 2 x 6 mm bán được 800.000 đồng. Theo kết quả định giá thì 30 mét loại dây điện duplex 2 x 6 mm trị giá 1.005.000 đồng, chi phí thi công tại thời điểm mất trộm là 1.704.990 đồng.
Giá trị nêu trên được thể hiện tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh Kiên Giang. Cụ thể: 01 (một) mét dây cáp duplex điện lực 2x6 mm cadivi, đã qua sử dụng có giá trị là 33.500 đồng; chi phí thi công 01 (một) mét dây cáp duplex điện lực 2x6 mm cadivi là 56.833 đồng; 01 (một) mét dây cáp duplex điện lực 2x10 mm cadivi, đã qua sử dụng có giá trị là 57.000 đồng; chi phí thi công 01 (một) mét dây cáp duplex điện lực 2x10 mm cadivi là 72.471 đồng.
Các lần trộm cắp này đều không đủ mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi trộm cắp của bị cáo thực hiện không liên tục về mặt thời gian nên Viện kiểm sát không cộng chung giá trị tài sản mà các bị cáo trộm cắp từ tháng 7 đến tháng 11-2024 vào giá trị trộm cắp mà các bị cáo thực hiện vào tháng 6/2024 để truy tố chung.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo mức án từ 6 đến 9 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo M và bị cáo T thực hiện 03 lần trộm cắp cùng nhau (kể cả lần đang bị truy tố) với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 11.965.683 đồng. Như vậy, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 5.982.841 đồng.
- - Bị cáo M cùng với Hồ Trung K thực hiện 02 lần trộm cắp cùng nhau với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 5.299.410 đồng. Như vậy, mỗi người phải bồi thường cho bị hại là 2.649.705 đồng.
- - Bị cáo T cùng với Hồ Trung K thực hiện 03 lần trộm cắp cùng nhau với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 2.709.994 đồng. Như vậy, mỗi người phải bồi thường cho bị hại là 1.354.997 đồng đồng.
- - Các bị cáo M, T cùng với Hồ Trung K thực hiện 02 lần trộm cắp cùng nhau với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 2.258.325 đồng. Như vậy, mỗi người phải bồi thường cho bị hại là 752.775 đồng.
Tổng số tiền bị cáo M phải bồi thường cho bị hại là 9.385.321 đồng, bị cáo đã khắc phục được 8.780.000 đồng. Như vậy, bị cáo M còn phải bồi thường thêm cho bị hại 605.321 đồng.
Tổng số tiền bị cáo T phải bồi thường cho bị hại là 8.090.613 đồng, bị cáo đã khắc phục được 7.500.000 đồng. Như vậy, bị cáo T còn phải bồi thường thêm cho bị hại 590.613 đồng.
Đối với Hồ Trung K thì các lần trộm cắp cùng với T, M vào tháng 7, 8, 9 và 11/2024 đã được xử lý tại Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, còn lại lần trộm cắp vào tháng 10/2024 chưa được xử lý nên K còn phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền 602.220 đồng.
Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước phương tiện mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội là 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68F2-6765, màu đen đỏ, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, số khung RLCS5C640AY385964, số máy 5C64385971, đã qua sử dụng.
Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, Hồ Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo M và T không có ý kiến hay khiếu nại đối với Kết luận định giá tài sản và khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa, thừa nhận các lần trộm cắp như trên và đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại bao gồm giá trị tài sản trộm cắp và chi phí thi công theo kết luận định giá có trong hồ sơ theo phương thức lần nào có 02 người cùng thực hiện sẽ chia đôi trách nhiệm cho hai người, lần nào có 03 người cùng thực hiện thì sẽ chia đều ra cho cả 03 người cùng chịu trách nhiệm. K cùng các bị cáo M, T đồng ý bồi thường cho bị hại theo mức mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa.
- Ông Trịnh Văn T1 nộp tiền khắc phục thay cho bị cáo T là 7.500.000 đồng và không có yêu cầu gì đối với bị cáo T nên HĐXX không xem xét.
- Bà Đào Thị Kim P nộp tiền khắc phục hậu quả thay cho bị cáo M là 8.780.000 đồng và không có yêu cầu gì đối với bị cáo M nên HĐXX không xem xét.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên, yêu cầu bị cáo T phải bồi thường 8.090.613 đồng, bị cáo M phải bồi thường 9.385.321 đồng và K phải bồi thường 602.220 đồng. Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX xử theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: trong khoảng thời gian bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, bị cáo đã thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi sai trái của mình. Kính mong HĐXX xem xét xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm quay về giúp ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 08 giờ, ngày 20/6/2024 các bị cáo Ong Minh M và Trịnh Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68F2-6765 đi tìm tài sản trộm cắp, khi đến tổ F, ấp N, xã D, huyện K, tỉnh Kiên Giang, cả hai lấy trộm 40m (bốn mươi mét) dây điện loại duplex 2x10mm cadivi của Ban quản lý công trình công cộng huyện K đem bán cho vựa phế liệu Phạm Văn T2 được số tiền 1.400.000 đồng, tiêu xài cá nhân. Kết quả thẩm định giá 40m (Bốn mươi mét) duplex 2x10mm cadivi có giá trị 2.280.000 đồng. Ngày 13/12/2024, Trịnh Văn T và Ong Minh M ra trình báo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K về hành vi phạm tội của mình. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh Kiên Giang tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2024 thì tài sản các bị cáo trộm cắp của bị hại có giá trị 2.280.000 đồng (Hai triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng).
Hành vi lén lút lấy tài sản của người khác trị giá 2.280.000 đồng mà các bị cáo M và T thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương truy tố về tội danh và điều khoản này của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Các bị cáo cùng là người thực hành, không hề có sự bàn bạc từ trước nên được xác định là đồng phạm giản đơn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người trưởng thành, đủ để nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt, tự nguyện vận động người thân nộp tiền khắc phục hậu quả thay cho mình; các bị cáo tự nguyện khai báo sau khi bị phát hiện được xác định là đầu thú nên cần áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; riêng bị cáo T có cha được tặng thưởng Huân chương chiến công Hạng ba, đã từng tham gia nhập ngũ và đạt thành tích tốt trong quá trình tại ngũ nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và đều có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, bị cáo M có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Lẽ ra, các bị cáo được chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù. Tuy nhiên, các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp nhiều lần tại nhiều nơi khác nhau tuy chỉ có 01 lần duy nhất đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, tài sản các bị cáo trộm cắp là dây điện thắp sáng nên phần nào làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân tại khu vực bị các bị cáo cắt trộm dây điện. Do đó, cần xử các bị cáo mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm như nhau nhưng bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo M nên mức án áp dụng đối với bị cáo T có thể nhẹ hơn so với bị cáo M. Từ đó, HĐXX thống nhất xử phạt bị cáo M mức án thấp nhất của khung hình phạt; áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo T.
[4] Xét lời luận tội của Kiểm sát viên về tội danh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa các bị cáo, K và bị hại thống nhất xác định trường hợp nào có 02 người cùng thực hiện sẽ chia đôi trách nhiệm cho hai người, trường hợp có 03 người cùng thực hiện thì sẽ chia đều ra cho cả 03 người cùng chịu trách nhiệm. Từ đó, xác định trách nhiệm bồi thường của từng người như sau:
- - Bị cáo M và bị cáo T thực hiện 03 lần trộm cắp cùng nhau (kể cả lần đang bị xét xử) với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 11.965.683 đồng. Như vậy, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 5.982.841 đồng.
- - Bị cáo M cùng với Hồ Trung K thực hiện 02 lần trộm cắp cùng nhau với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 5.299.410 đồng. Như vậy, mỗi người phải bồi thường cho bị hại là 2.649.705 đồng.
- - Bị cáo T cùng với Hồ Trung K thực hiện 03 lần trộm cắp cùng nhau với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là 2.709.994 đồng. Như vậy, mỗi người phải bồi thường cho bị hại là 1.354.997 đồng đồng.
- - Các bị cáo M, T cùng với Hồ Trung K thực hiện 02 lần trộm cắp cùng nhau với tổng giá trị tài sản trộm cắp và thiệt hại chi phí thi công là. 2.258.325 đồng. Như vậy, mỗi người phải bồi thường cho bị hại là 752.775 đồng.
Tổng số tiền bị cáo M phải bồi thường cho bị hại là 9.385.321 đồng, bị cáo đã khắc phục được 8.780.000 đồng. Như vậy, bị cáo M còn phải bồi thường thêm cho bị hại 605.321 đồng.
Tổng số tiền bị cáo T phải bồi thường cho bị hại là 8.090.613 đồng, bị cáo đã khắc phục được 7.500.000 đồng. Như vậy, bị cáo T còn phải bồi thường thêm cho bị hại 590.613 đồng.
Đối với Hồ Trung K thì các lần trộm cắp cùng với T, M vào tháng 7, 8, 9 và 11/2024 đã được xử lý tại Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, còn lại lần trộm cắp vào tháng 10/2024 chưa được xử lý nên K còn phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền 602.220 đồng.
- Ông Trịnh Văn T1 nộp tiền khắc phục thay cho bị cáo T không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.
- Bà Đào Thị Kim P nộp tiền khắc phục hậu quả thay cho bị cáo M không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước phương tiện mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội là 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68F2-6765, màu đen đỏ, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, số khung RLCS5C640AY385964, số máy 5C64385971, đã qua sử dụng.
[8] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: buộc các bị cáo M, T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: K, bị cáo M và bị cáo T mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
[9] Đối với hành vi trộm cắp mà các bị cáo và K thực hiện từ tháng 7 đến tháng 11/2024 không đủ mức tối thiểu và không liên tục về thời gian nên hành vi này của các bị cáo không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, HĐXX không xem xét về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi này.
[10] Đối với Phạm Văn T2 thu mua dây điện từ bị cáo M không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên bố các bị cáo Ong M và Trịnh Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, xử phạt bị cáo O (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/12/2024).
Áp dụng điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 05 (năm) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/12/2024).
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng các Điều 584, 587 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo M phải có nghĩa vụ bồi thường thêm cho bị hại số tiền 605.321 đồng (sáu trăm lẻ năm nghìn ba trăm hai mươi mốt đồng).
Buộc bị cáo T phải có nghĩa vụ bồi thường thêm cho bị hại số tiền 590.613 đồng (năm trăm chín mươi nghìn sáu trăm mười ba đồng).
Buộc Hồ Trung K phải có nghĩa vụ bồi thường thêm cho bị hại số tiền 602.220 đồng (sáu trăm lẻ hai nghìn hai trăm hai mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị hại liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương để nhận số tiền cha bị cáo T nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo số tiền là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng), theo các Biên lai thu tiền số 0003215 và 0003217 ngày 19/3/2025 và tiền mẹ bị cáo M nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo là 8.780.000 đồng (tám triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003218 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Tổng số tiền theo 03 biên lai thu tiền là 16.280.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).
3. Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước phương tiện mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội là 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68F2-6765, màu đen đỏ, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, số khung RLCS5C640AY385964, số máy 5C64385971, đã qua sử dụng.
Vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSKL ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo M, T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
M, T và K mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị và thi hành án:
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ong Minh Mẫn và Trịnh Văn Thảo lấy trộm 40m (bốn mươi mét) dây điện loại duplex 2x10mm cadivi của Ban quản lý công trình công cộng huyện Kiên Lương có giá trị 2.280.000 đồng (Hai triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng).
