|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HSST.
Ngày: 25/3/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vương Thị Hội.
- Ông Nguyễn Văn Thi.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê-Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Vũ Hữu Huyền -Kiểm sát viên (KSV).
Trong ngày 25/3/2025, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/HSST ngày 21/2/2025 đối với bị cáo:
Ngô Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 9 năm 1991 tại: Huyện K, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Tổ dân phố (TDP) 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Số CCCD: [...] cấp ngày 20/8/2022. Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Làm nông; tiền án, tiền sự: Không; con ông Ngô Văn T, sinh năm 1964 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1962; vợ là Lê Thị Thu H, sinh năm 1999 và 01 con. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2025 cho đến ngày 10/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Bùi Đức T1, sinh năm 1995;
- Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
- - Anh Ngô Mạnh H1, sinh năm 1994;
- Địa chỉ: TDP B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
Người làm chứng:
- - Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1999;
- Địa chỉ: TDP B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Văn Duẩn S, sinh năm 1991;
- Địa chỉ: TDP B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
- - Chị Lê Thị B, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 11/2024, Ngô Văn C gặp một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại quán C2, thuộc TDP B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Qua nói chuyện, C nghe người đó nói về việc có bán pháo chơi tết nên C đã hỏi mua 02 hộp pháo, loại 49 ống phóng với số tiền là 550.000 đồng/hộp và 02 hộp pháo, loại 138 ống phóng với giá 1.200.000 đồng/hộp với mục đích để dùng trong dịp tết Nguyên đán. Theo thỏa thuận, người đàn ông đó đã lấy 04 hộp pháo để ở đống củi gần nhà của C và lấy số tiền 3.500.000 đồng.
Ngày 12/12/2024, Bùi Đức T1, trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai làm nghề sửa xe ở gần nhà của C biết C có pháo nên hỏi mua để chơi tết. Lúc này, C nảy sinh ý định bán số pháo đã mua để kiếm lời. Sau khi thống nhất, C đã bán lại 02 hộp pháo, loại 49 ống phóng cho T1 với số tiền là 850.000 đồng/hộp, tổng cộng là 1.700.000 đồng và C đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 13 giờ ngày 01/01/2025, có một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho C nói muốn mua pháo để chơi tết nên C trả lời nội dung: “Còn có 02 hộp pháo loại 138 ống phóng, bán với giá 1.600.000 đồng/hộp”. Người đàn ông đó đồng ý mua 02 hộp pháo và giao nhận tại làng B, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai. C hẹn sẽ mang pháo đến giao và nhận tiền mặt ở làng B, xã K Khơng. Sau đó, C đi vào nhà lấy 02 hộp pháo, loại 138 ống phóng giấu trong nóc tủ ở phòng ngủ rồi bỏ vào thùng giấy, dùng băng keo dán miệng hộp lại, C đặt ở gác trước xe mô tô BKS 81H1-203.06 để đi bán. Lúc này, C thấy vợ là chị Lê Thị Thu H đang nằm ngủ trong nhà nên C gọi dậy nói với vợ là C đi qua xã K Khơng có việc. Do H đang có thai nên xin C chở đi chơi vì ở nhà một mình buồn, C đồng ý chở vợ đi cùng. C điều khiển xe chở chị H ngồi sau, để thùng giấy bên trong có 02 hộp pháo ở gác trước xe đi theo trục đường T để về hướng xã K Khơng. Khi đi qua ngã rẽ về thị trấn K trên trục đường T thuộc địa phận xã Đ, huyện K bị Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Đối với 02 hộp pháo loại hình hộp chữ nhật có đặc điểm kích thước mỗi hộp là (27,5x10x32,5)cm, trên vỏ hộp có ký tự chữ nước ngoài và số “138”, “T4138” cùng các hình vẽ, họa tiết nhiều màu sắc thu giữ trong quá trình bắt quả tang C và 02 hộp loại hình hộp chữ nhật có đặc điểm kích thước mỗi hộp (17x17x10)cm, trên vỏ trên có ký tự, số: “KS4-4911” cùng các hình vẽ họa tiết nhiều màu sắc do Bùi Đức T1 tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra xác định, nguồn gốc các vật chứng nêu trên là do C đã mua từ một đối tượng nam giới (chưa rõ nhân thân, lai lịch) vào tháng 11/2024 tại thị trấn K, C đã bán cho T1 02 hộp pháo loại hình hộp chữ nhật có đặc điểm kích thước mỗi hộp (17x17x10)cm, trên vỏ trên có ký tự, số: “KS4-4911” cùng các hình vẽ họa tiết nhiều màu sắc và đã thỏa thuận bán cho một người khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 02 hộp pháo loại hình hộp chữ nhật có đặc điểm kích thước mỗi hộp là (27,5x10x32,5)cm, trên vỏ hộp có ký tự chữ nước ngoài và số “138”, “T4138” cùng các hình vẽ, họa tiết nhiều màu sắc.
Tại Bản kết luận giám định số: 102/KL-KTHS, ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh G xác định:
- - 02 hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “T4138 – 138”, bên trong mỗi hộp đều có 132 lỗ tròn, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau và liên kết 06 vật hình trụ, màu xám, đựng trong 01 thùng giấy các tông ghi “A” chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 9,9kg.
- - 02 hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 – BILLION TIME – 49 SHOTS”, bên trong mỗi hộp đều có 49 vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, đựng trong 01 thùng giấy các tông ghi “B” chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 3,5kg.
Sau khi trích mẫu giám định, vật chứng còn lại Cơ quan (Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện K đang tạm giữ: 01 thùng giấy các tông niêm phong, có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L và Lê Đình H2, bên trong có 01 hộp giấy, bên ngoài hộp dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “T4138 – 138”, khối lượng 05kg và 01 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 – BILLION TIME – 49 SHOTS”, khối lượng 1,7kg (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định) do Phòng K Công an tỉnh G bàn giao lại sau khi giám định nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- - Đối với 01 xe mô tô BKS 81H1-203.06, nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, số máy: JF63E-2581352, số khung: RLHJF632XKZ152269. Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên là của Ngô Mạnh H1, sinh năm 1994, trú tại: TDP B, thị trấn K cho C mượn đi lại, việc C sử dụng chiếc xe trên vào việc thực hiện hành vi phạm pháp thì H1 không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trả lại cho chủ sở hữu chiếc xe này theo đúng quy định.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro, số Seri: G6TF31030D8Q, gắn sim số thuê bao: 0904218181; 01 thùng giấy kích thước (52x50x18,5)cm do Cơ quan điều tra tạm giữ trong quá trình bắt quả tang. Quá điều tra xác định các vật chứng nêu trên là của Ngô Văn C và được sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
Ngô Văn C đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.700.000 đồng do bán 02 hộp pháo cho Bùi Đức T1 mà có, Cơ quan điều tra đã tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 05/CTr-VKS ngày 21/02/2025, VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã truy tố Ngô Văn C về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kbang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội: “Buôn bán hàng cấm "; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt Ngô Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 thùng giấy các tông niêm phong, có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L và Lê Đình H2, bên trong có 01 hộp giấy, bên ngoài hộp dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ "T4138 – 138”, khối lượng 05kg; 01 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 – BILLION TIME – 49 SHOTS”, khối lượng 1,7kg; 01 thùng giấy kích thước (52x50x18,5)cm.
Đề nghị tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro, số Seri: G6TF31030D8Q, gắn sim số thuê bao: 0904218181.
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.700.000 đồng do bị cáo C giao nộp.
Về án phí: Buộc bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã nêu và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kbang, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Ngô Văn C phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an huyện K và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó có thể xác định rằng:
Vào tháng 11/2024, Ngô Văn C thỏa thuận mua của một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 02 hộp pháo, loại 49 ống phóng với giá 550.000 đồng/hộp và 02 hộp pháo, loại 138 ống phóng với giá 1.200.000 đồng/hộp.
Ngày 12/12/2024, C thỏa thuận bán cho Bùi Đức T1 02 hộp pháo, loại 49 ống phóng với giá 850.000 đồng/hộp, T1 đã nhận pháo và trả C số tiền là 1.700.000 đồng. Tiếp đó, đến khoảng 13 giờ ngày 01/01/2025, C thỏa thuận bán cho một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 02 hộp pháo loại 138 ống phóng, bán với giá 1.600.000 đồng/hộp. Khi C đang trên đường đi từ thị trấn K đến làng B, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai để giao pháo và nhận tiền thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số: 102/KL-KTHS, ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh G xác định:
- 02 hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “T4138 – 138”, bên trong mỗi hộp đều có 132 lỗ tròn, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau và liên kết 06 vật hình trụ, màu xám, đựng trong 01 thùng giấy các tông ghi “A” chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 9,9kg.
- 02 hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 – BILLION TIME – 49 SHOTS”, bên trong mỗi hộp đều có 49 vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, đựng trong 01 thùng giấy các tông ghi “B” chuyển đến giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 3,5kg.
Như vậy, hành vi buôn bán pháo có tổng khối lượng 13,4kg nêu trên của Ngô Văn C đã phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo C đã khắc phục hậu quả, tự nguyện nộp lại số tiền dùng để mua bán pháo và có được do mua bán pháo; bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, gia đình bị cáo hiện gặp nhiều khó khăn, cha mẹ bị cáo đã lớn tuổi, vợ bị cáo mới sinh con nhỏ (ngày 16/3/2025), bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của UBND thị trấn K), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy bị cáo Ngô Văn C là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được việc buôn bán pháo nổ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do động cơ tham lợi nhuận cao từ việc buôn bán pháo nên bị cáo đã có hành vi phạm tội như nói ở trên. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi gây nguy hiểm lớn cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hoàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông, gián tiếp gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải bị xem xét và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn nên với tính khoan hồng của pháp luật, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhưng vẫn có khả năng cải tạo bị cáo thành người lương thiện mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đề nghị của VKSND huyện Kbang, cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách là đã đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Liên quan đến vụ án có anh Bùi Đức T1 là người mua của bị cáo C 02 hộp pháo hoa nổ, có khối lượng 3,5kg. Do khối lượng này chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tách hồ sơ để xử lý hành chính đối với anh T1 là có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, anh T1 tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Đối với chị Lê Thị Thu H là vợ của bị cáo C, được C chở đi bán pháo cùng vào ngày 01/01/2025. Quá trình điều tra xác định chị H không được C bàn bạc gì về việc buôn bán pháo, không biết trong thùng giấy để trước xe mô tô khi C chở đi có 02 hộp pháo nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị H là có căn cứ.
Đối với người nam giới đã bán cho bị cáo C 04 hộp pháo vào tháng 11/2024 và người đàn ông hỏi C mua pháo vào ngày 01/01/2025, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của hai người này nên Cơ quan điều tra tách hành vi, tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Ngô Mạnh H1, sinh năm 1994, trú tại: TDP B, thị trấn K là em trai của bị cáo C, anh H1 là chủ chiếc xe mô tô BKS 81H1-203.06. Quá trình điều tra, xác định anh H1 cho C mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, việc C sử dụng xe làm phương tiện phạm tội thì anh H1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho anh H1 là đúng pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Xét một số vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy, gồm: 01 thùng giấy các tông niêm phong, có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L và Lê Đình H2, bên trong có 01 hộp giấy, bên ngoài hộp dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “T4138 – 138”, khối lượng 05kg; 01 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4- 4911 – BILLION TIME – 49 SHOTS”, khối lượng 1,7kg; 01 thùng giấy kích thước (52x50x18,5)cm.
Xét vật chứng được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro, số Seri: G6TF31030D8Q, gắn sim số thuê bao: 0904218181.
Đối với số tiền do phạm tội mà có được bị cáo giao nộp là 1.700.000 đồng cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội: “Buôn bán hang cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 65 của BLHS;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/3/2025).
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân (UBND) thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn K trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng Điều 47 của BLHS và khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 thùng giấy các tông niêm phong, có các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L và Lê Đình H2, bên trong có 01 hộp giấy, bên ngoài hộp dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ "T4138 – 138”, khối lượng 05kg; 01 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “KS4-4911 – BILLION TIME – 49 SHOTS”, khối lượng 1,7kg; 01 thùng giấy kích thước (52x50x18,5)cm.
Tuyên tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro, số Seri: G6TF31030D8Q, gắn sim số thuê bao: 0904218181.
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng).
(Đặc điểm cụ thể theo các Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 15/BB-CCTHADS và số 16/BB-CCTHADS ngày 26/2/2025 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ngô Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/3/2025), bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn và quyền kháng cáo nêu trên của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày người đó nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 25/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn Cường - buôn bán hàng cấm