Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-03-2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Dương

Ông: Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Ba Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2025/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng M - Sinh năm: 1981;
  • - Bị đơn: Chị Lê Thị T - Sinh năm: 1980

Đều có địa chỉ: TDP P, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa anh Nguyễn Trọng M trình bày như sau: Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T (nay là phường B, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/03/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau nên không có hạnh phúc. Sự việc xảy ra nhiều lần, anh đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân hoàn toàn từ tháng 6/2024 cho đến nay. Nay anh thấy không còn tình cảm với chị T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Chị Lê Thị T trình bày quan điểm của mình như sau: Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn, như anh M trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm đến đầu năm 2024 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên có nhiều bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên không có hạnh phúc. Nay anh M làm đơn ly hôn chị không đồng ý.

Về con chung: Anh M và chị T có 02 con chung là cháu: Nguyễn Trọng D – Sinh ngày: 19/4/2015, Nguyễn Thị Hồng V – Sinh ngày: 27/10/2013. Cả anh M và chị T đều có nguyện vọng được nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Cháu V có nguyện vọng ở với mẹ, cháu D có nguyện vọng ở với bố.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh M xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng xuất phát từ việc chị T vay mượn tiền không rõ ràng, trong cuộc sống tuy chung sống trong một nhà nhưng không quan tâm và sống ly thân hoàn toàn. Về phía chị T xác định do vợ chồng làm nhà nên chị phải vay mượn tiền để trang trải nợ nần, chị thừa nhận khi vay thì không thông báo cho anh M biết. Chị xác định hai vợ chồng không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn. Về phía con chung anh chị thống nhất các cháu muốn ở với ai thì người đó nuôi con. Về cấp dưỡng các bên không yêu cầu cấp dưỡng; Về tài sản và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng M. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Nguyễn Trọng M và chị Lê Thị T. Về con chung: Giao cháu D cho anh M nuôi dưỡng, giao cháu V cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các bên được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí: Buộc anh M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Trọng M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lê Thị T là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh M và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh M và chị T đã xảy ra mâu thuẫn, bản thân anh M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Về phía chị T không đồng ý ly hôn nhưng chị không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh M và chị T kết hôn hợp pháp, về nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm được. Tuy nhiên tại phiên tòa cả anh M và chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên thuận tình ly hôn vì vậy HĐXX áp dụng Điều 55 Luật HN&GĐ công nhận thuận tình ly hôn giữa anh M và chị T.

[3] Về con chung: Anh M và chị T có 02 con chung là cháu: Nguyễn Trọng D – Sinh ngày: 19/4/2015, Nguyễn Thị Hồng V – Sinh ngày: 27/10/2013. Tại phiên tòa anh M và chị T thống nhất hiện các cháu đã lớn các chau có nguyện vọng ở với ai thì người đó được quyền nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án cháu D có nguyện vọng ở với anh M còn cháu Hồng V có nguyện vọng ở với chị T. Vì vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Hồng V cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trọng D cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của các cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh M và chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự nên được HĐXX chấp nhận.

Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp một bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc anh M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 55, khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng M.

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Trọng M và chị Lê Thị T.

2. Về con chung: Anh M và chị T có 02 con chung là cháu: Nguyễn Trọng D – Sinh ngày: 19/4/2015, Nguyễn Thị Hồng V – Sinh ngày: 27/10/2013. Nay ly hôn giao cháu D cho anh M nuôi dưỡng, giao cháu V cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau.

- Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Các bên được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp một bên lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của nhau.

3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

4. Về án phí: Buộc anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003087, ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Anh M đã thi hành xong phần án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND thị xã Nghi Sơn;

- CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;

- Nguyên đơn, bị đơn;

- UBND phường Bình Minh, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T (nay là phường B, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/03/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau nên không có hạnh phúc. Sự việc xảy ra nhiều lần, anh đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân hoàn toàn từ tháng 6/2024 cho đến nay. Nay anh thấy không còn tình cảm với chị T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger