TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 09/2025/DS-ST Ngày: 20-3-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Păng Ting Nock
- Bà Nguyễn Thị Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 20/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 212/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 10/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2025/QĐST-DS ngày 10/3/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Trần Văn T, sinh năm 1992. Trú tại: A T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: ông Lê Văn Q, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Kim B, sinh năm 1966. Địa chỉ: khu tập thể G, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Đàm Bảo Q1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1983. Địa chỉ: I khu phố N, Phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
(Ông T, ông Q, bà B có mặt, ông Q1, bà H có đơn xin vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Ngày 20/4/2021, giữa ông và vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 7.850.000.000₫ (Bảy tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), chia làm hai đợt thanh toán: Đợt 01 sẽ thanh toán 80% của số tiền còn lại sau 01 tháng kể từ khi ông Q, bà B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đợt 02 sẽ thanh toán hết khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đứng tên ông; Nếu quá thời hạn thỏa thuận trên hợp đồng mà ông Q, bà B không bán, chuyển nhượng cho tôi thì phải bồi thường số tiền 2 lần gấp số tiền đặt cọc là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Nếu không tiếp tục mua sẽ mất số tiền cọc.
Tuy nhiên, sau đó ông được biết phần diện tích thửa đất theo hợp đồng đặt cọc của ông Q, bà B đã được cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất trên nhưng ông, bà đưa ra thông báo là không bán cho ông nữa nhưng tiền đặt cọc thì không trả lại cho ông. Sau khi biết ông Q, bà B đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên thì ông nhiều lần yêu cầu ông Q, bà B thực hiện việc sang tên như thoả thuận, lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông nhưng ông Q, bà B không đồng ý. Như vậy, ông Q, bà B đã vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Vì vậy, ông yêu cầu buộc ông Q, bà B tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 20/4/2021, chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thửa đất LK E48, diện tích 90m² tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cho ông. Nếu không đồng ý thì buộc ông Q, bà B hoàn trả lại cho ông 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) tiền cọc đã nhận, phạt cọc số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) như thoả thuận. Ông không đồng ý với yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 20/4/2024.
* Bị đơn vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B trình bày:
Lô đất LK E48 là lô đất chính chủ của vợ chồng ông, bà được cấp theo quy hoạch chỉnh trang đô thị của thành phố Đ. Không hề có tranh chấp với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Vào tháng 4 năm 2021, do khó khăn tài chính nên vợ chồng ông, bà đăng thông tin bán mảnh đất nêu trên.
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 18/4/2021, ông Trần Văn T dẫn vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H đến nhà ông, bà để kiểm tra giấy tờ và thỏa thuận mua mảnh đất nêu trên với giá tiền là 7.850.000.000₫ (Bảy tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng). Ông T lập 02 hợp đồng đặt cọc cho vợ chồng ông, bà và vợ chồng ông Đàm Bảo Q1 ký kết. Trong hợp đồng có nêu rõ số tiền đặt cọc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), bà H là vợ ông Q1 để lấy lòng tin đã chuyển khoản ngay lúc đó vào số tài khoản của ông Lê Văn Q 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và nói hiện tại chưa chuẩn bị đủ tiền nên đưa trước số tiền nêu trên, hẹn sau đó ngày 20/4/2021 sẽ tới đưa nốt số tiền đặt cọc còn lại là 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Ngày 20 tháng 4 năm 2021, ông Trần Văn T dẫn anh T1 đến nhà ông, bà nói rằng ông Đàm Bảo Q1 vắng mặt nên ủy quyền cho ông T làm lại hợp đồng mới để thuận tiện trong việc giao dịch và hứa sẽ chuyển nốt số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) từ hợp đồng trước đó của ông Đàm Bảo Q1 cho vợ chồng ông, bà, ông T chỉ nói miệng chứ không kèm theo bất kỳ giấy tờ ủy quyền nào. Sau khi thỏa thuận vì tin lời ông T nên ông, bà viết lại hợp đồng đặt cọc cho ông T, có anh T1 làm chứng. Sau khi ký kết hợp đồng với ông T thì vợ chồng ông, bà vẫn chưa nhận được bất kỳ khoản tiền nào từ ông T, dù là tiền đặt cọc hay số tiền ông hứa là 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) từ vợ chồng ông Đàm Bảo Q1 dưới bất kỳ hình thức nào.
Sau đó khoảng 07 ngày khi đã ký kết hợp đồng với ông T, ông, bà có gọi điện hỏi lại vợ chồng ông Q1 nói rằng “anh chị mua lô đất LK E48 nữa không mà không thấy chuyển tiền hay thông tin gì cho vợ chồng tôi”. Chị H trả lời “chị không biết gì ạ? Em đã sang tên hợp đồng và nhận lại số tiền đã đưa cho anh chị từ T rồi” lúc đó ông, bà bất ngờ vì sự việc lô đất của ông, bà được chuyển nhượng hợp đồng mà không có bất kỳ sự đồng ý hay chứng kiến nào của ông, bà, không có bất kỳ biên bản làm việc nào có sự đồng ý của vợ chồng ông, bà để ủy quyền hoặc hủy bỏ hợp đồng đặt cọc trước đó được ký kết ngày 18/4/2021 giữa vợ chồng ông, bà và vợ chồng ông Q1, bà H.
Ngày 01/5/2021, ông T dẫn theo khách hàng là 02 vợ chồng trú tại Thành phố Hồ Chí Minh tới nhà ông, bà để giao dịch mua bán mảnh đất LK E48 với giá trị là 8.200.000.000₫ (Tám tỷ hai trăm triệu đồng). Ông T yêu cầu 02 vị khách trên lập lập hợp đồng đặt cọc với ông T nhưng 02 vị khách trên chỉ đồng ý ký hợp đồng với chủ nhà (là vợ chồng ông, bà) nên thỏa thuận không được tiếp tục. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/5/2021, ông T gọi điện cho ông, bà thúc giục ra Ủy ban nhân dân gần nhất làm giấy ủy quyền chuyển nhượng lô đất LK E48 để thuận tiện cho việc mua bán. Ông, bà không đồng ý ủy quyền vì ông T chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính nào cho ông, bà bao gồm cả tiền đặt cọc.
Nay, theo yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông, bà không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 20/04/2021 và không đồng ý trả lại số tiền cọc 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và phạt cọc số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) vì ông, bà chỉ nhận cọc từ bà H thì ông, bà chỉ trả lại cho ông Q1, bà H số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), còn việc phạt cọc ông, bà không đồng ý vì do lỗi của 03 bên.
Ông, bà yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 18/4/2021, giữa vợ chồng ông Lê Văn Q và bà Lê Thị Kim B và vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H; Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 20/4/2021, giữa vợ chồng ông Lê Văn Q và bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Ngày 18/4/2021, giữa vợ chồng ông, bà và vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B có lập hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất) đối với diện tích 90m² đất, thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 7.800.000.000₫ (Bảy tỷ tám trăm triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì ông, bà đã chuyển khoản cho ông Q, bà B 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) vào ngày 18/4/2021.
Sau đó, vì có một số nhóm nhắn tin hăm dọa đòi tiền cò là 100.000.0000đ (Một trăm triệu đồng) và nói nếu không đưa thì không về được nhà, chửi bới ông, bà, đe dọa sẽ ảnh hưởng đến con cái. Vì lo ngại cho tính mạng của gia đình nên vợ chồng có gọi điện thoại cho ông Q, bà B trao đổi không tiếp tục mua bán thì ông Q, bà B đồng ý trả lại tiền cọc. Sau đó vợ, chồng ông, bà có gọi điện thoại cho T trao đổi để hủy hợp đồng và thông báo cho T ông Q, bà B đã đồng ý thì ông T nói “thôi chị chuyển hợp đồng qua cho em để em tiếp tục thực hiện hợp đồng, xem như em mua miếng đất trên”, do thời điểm đó là dịch covid nên vợ chồng ông, bà không lên trực tiếp để hủy hợp đồng cũ và T hứa sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng theo đúng tiến độ về thời hạn thanh toán như đúng hợp đồng ông, bà đã ký với ông Q, bà B. Ngày 20/4/2021, T có chuyển cho bà số tiền 45.000.000₫ (bốn mươi lăm triệu đồng), còn 5.000.000đ (năm triệu đồng) T xin bà tiền cà phê thì bà đồng ý và có nói để T sẽ liên hệ với ông Q, bà B. Sau đó, ông T có chụp hình gửi cho ông, bà hợp đồng giữa ông T và ông Q, bà B ngày 20/004/2021 cho ông, bà xem.
Ngày 20/4/2021, bà B có gọi điện thoại cho ông, bà hỏi “sao không chồng tiền lần 2” thì bà mới biết T chưa nói chuyện rõ ràng về việc mua đất. Bà có gọi điện lại cho T thì T khẳng định là đã nói rõ với vợ, chồng ông Q, bà B.
Nay, theo yêu cầu của nguyên đơn và trình bày của bị đơn thì bà yêu cầu ông Q, bà B phải trả lại tiền cọc cho bà 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Bà không yêu cầu phạt cọc vì lỗi của các bên.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/4/2021 giữa ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T thì thấy rằng:
Các bên đều thừa nhận vào ngày 18/04/2021, giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B với vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H có lập hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) đối với diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 7.850.000.000₫ (Bảy tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng). Số tiền đặt cọc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Thỏa thuận chia làm hai đợt thanh toán: Đợt 01 sẽ thanh toán 80% của số tiền còn lại sau 01 tháng kể từ khi ông Q, bà B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đợt 02 sẽ thanh toán hết khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đứng tên ông Q, bà B; Nếu quá thời hạn thỏa thuận trên hợp đồng mà ông Q, bà B không bán, chuyển nhượng cho ông Q1, bà H thì phải bồi thường số tiền gấp đôi số tiền đặt cọc là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Nếu không tiếp tục mua sẽ mất số tiền cọc. Sau khi lập hợp đồng thì ông Q1, bà H đã chuyển khoản cho ông Q, bà B số tiền đặt cọc 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng). Như vậy, hợp đồng đặt cọc giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B với vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H ký kết giữa các chủ thể có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ tư dân giữa các bên, vì vậy chấp nhận yêu cầu của ông Q, bà B.
Đến ngày 20/04/2021, giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B với ông Trần Văn T tiếp tục lập hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) đối với cùng diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 7.850.000.000₫ (bảy tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng). Số tiền đặt cọc là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Thỏa thuận chia làm hai đợt thanh toán: Đợt 01 sẽ thanh toán 80% của số tiền còn lại sau 01 tháng kể từ khi ông Q, bà B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đợt 02 sẽ thanh toán hết khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đứng tên ông Q, bà B; Nếu quá thời hạn thoả thuận trên hợp đồng mà ông Q, bà B không bán, chuyển nhượng cho ông T thì phải bồi thường số tiền gấp đôi số tiền đặt cọc là 100.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Nếu không tiếp tục mua sẽ mất số tiền cọc.
Như vậy, ngày 18/04/2021 ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B đã lập hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) với ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H đối với diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hợp đồng này vẫn còn tồn tại, chưa bị hủy mà đến ngày 20/04/2021 ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B tiếp tục lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Trần Văn T đối với cùng diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nên hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/04/2021 giữa ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, nguyên đơn ông Trần Văn T yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/4/2021 giữa ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T là không có căn cứ chấp nhận.
Việc ông T cho rằng hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 18/04/2021, giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B với vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H đã bị gạch chéo là đã bị hủy bỏ, tuy nhiên ông Q, bà B không thừa nhận mà cho rằng “ông giữ cháu nhỏ, không cẩn thận để cháu gạch vào”. Trên thực tế thì hợp đồng vẫn còn tồn tại và ông Q, bà B đã cung cấp cho tòa án bản hợp đồng in từ giấy than, có chữ ký của các bên, bà H cũng thừa nhận giữa vợ chồng bà và ông Q, bà B chưa hủy hợp đồng ngày 18/4/2021 nên lời trình bày của ông T là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc vợ chồng ông Q, bà B trả lại 50.000.000đồng tiền cọc và phạt cọc 50.000.000đồng thì thấy rằng:
Do hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/04/2021 giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T vô hiệu nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự. Ông Q, bà B nhận 50.000.000đồng tiền cọc là do ông Q1, bà H chuyển khoản, ông T cũng thừa nhận không nhận cọc từ ông Q, bà B mà do ông muốn tiếp tục hợp đồng với ông Q, bà B nên mới chuyển khoản cho ông Q1, bà H 45.000.000đồng là tiền ông Q1, bà H chuyển khoản cho ông Q, bà B và bà H cho ông 5.000.000đồng tiền nước. Như vậy, giữa ông Q, bà B và ông T không có việc giao nhận đối với số tiền 50.000.000đồng và ông Q, bà B cũng chỉ chấp nhận trả lại số tiền 50.000.000đồng cho ông Q1, bà H. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu buộc vợ chồng ông Q, bà B trả lại cho ông T 50.000.000đồng tiền cọc. Hợp đồng vô hiệu do lỗi của hai bên nên không có căn cứ phạt cọc như yêu cầu của ông T.
[2.3]. Đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 18/04/2021 giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H thì thấy rằng: Sau khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 18/04/2021, theo bà H trình bày vì có một số nhóm nhắn tin hăm dọa đòi tiền cò là 100.000.0000đ và nói nếu không đưa thì không về được nhà, chửi bới ông, bà, đe dọa sẽ ảnh hưởng đến con cái. Vì lo ngại cho tính mạng của gia đình nên vợ chồng có gọi điện thoại cho ông Q, bà B trao đổi không tiếp tục mua bán thì ông Q, bà B đồng ý trả lại tiền cọc. Sau đó vợ, chồng ông, bà có gọi điện thoại cho T để trao đổi để hủy hợp đồng và thông báo cho T ông Q, bà B đã đồng ý thì ông T nói “thôi chị chuyển hợp đồng qua cho em để em tiếp tục thực hiện hợp đồng, xem như em mua miếng đất trên”, do thời điểm đó là dịch covid nên vợ chồng ông, bà không lên trực tiếp để hủy hợp đồng cũ và T hứa sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng theo đúng tiến độ về thời hạn thanh toán như đúng hợp đồng ông, bà đã ký với ông Q. Như vậy, bản thân ông Q1, bà H không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng ngày 18/04/2021 và ông Q, bà B cũng yêu cầu hủy hợp đồng nên có căn cứ chấp nhận.
[2.4]. Đối với yêu cầu của bị đơn yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/04/2021 giữa ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T thì do hợp đồng vô hiệu nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên, vì vậy chấp nhận yêu cầu của ông Q, bà B.
[2.5]. Đối với yêu cầu của bà H yêu cầu ông Q, bà B phải trả lại 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiền cọc cho vợ chồng ông, bà thì do hủy hợp đồng đặt cọc ngày 18/04/2021 và ông Q, bà B cũng đồng ý trả lại 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) cho ông Q1, bà H nên chấp nhận.
[3] Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đối với yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và án phí trên số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) không được chấp nhận là 100.000.000đ x 5% = 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Đối với yêu cầu hủy hợp đồng được chấp nhận nên ông Q, bà B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Q, bà B phải chịu án phí đối với số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) phải trả lại cho ông Q1, bà H (5% x 50.000.000đ = 2.500.000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng). Ông Q được miễn án phí nên bà B còn phải chịu 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Vì yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H được chấp nhận nên bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ Điều 123, 127, 131, 328 Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với yêu cầu vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/04/2021 giữa vợ chồng Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T và yêu cầu vợ chồng Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B trả lại 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và phạt cọc 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
- - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Văn Q và bà Lê Thị Kim B, tuyên:
- Hủy hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 18/04/2021 giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H đối với diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Hủy hợp đồng đặt cọc (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 20/04/2021 giữa vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn T đối với diện tích đất 90m², thuộc thửa đất số LK E48, tọa lạc tại khu Q, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thanh H1, buộc vợ chồng ông Lê Văn Q, bà Lê Thị Kim B trả lại cho vợ chồng ông Đàm Bảo Q1, bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền 50.000.0000đ (Năm mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
- - Về án phí:
- Ông Trần Văn T phải chịu 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000945 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Ông T còn phải nộp 2.800.000₫ (Hai triệu tám trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lê Thị Kim B phải chịu 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001102 ngày 06/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Bà B còn phải nộp 650.000₫ (Sáu trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thanh H 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001104 ngày 9/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Văn Q.
- - Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Vân Hồng |
Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 09/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
