Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ- TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS - ST

Ngày: 20/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mão

Ông Lê Xuân Cung

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST - HS, ngày 11 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị H (Tên gọi khác Nguyễn Thị L), sinh năm: 1986, tại thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Doãn Đ và bà Nguyễn Thị T; có chồng: Nguyễn Năng Đ1 và 03 con; tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

2. Vũ Thị Minh T1, sinh năm: 1981, tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thanh C và bà Nguyễn Thị Đ2; chồng: Nguyễn Hữu D và 01 con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1991 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết với nhau từ trước, trong khoảng thời gian từ ngày 07/4/2024 đến ngày 14/4/2024, Vũ Thị Minh T1 đã 08 lần cho Nguyễn Thị H vay tổng số tiền 3.300.000.000 đồng với các mức lãi suất từ 0,7143% đến 05% của khoản vay trên một ngày (tương đương mức lãi suất từ 260,7%/năm đến 1825%/năm, gấp từ 13,035 lần đến 91,25 lần lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính tổng số tiền 92.554.795 đồng. Sau khi vay được tiền của T1, ngoài 02 lần H dùng tiền vào mục đích cá nhân thì có 06 lần H đã dùng tiền vay của T1 để cho chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vay với mức lãi suất từ 10% đến 20% của khoản vay trên một ngày (tương đương mức lãi suất từ 3650%/năm đến 7300%/năm, gấp từ 182,5 lần đến 365 lần lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính tổng số tiền 318.465.753 đồng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 20 giờ ngày 07/4/2024, Nguyễn Thị H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max bên trong lắp sim số 0978768361 liên hệ với số điện thoại 0902.237.xxx được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max của Vũ Thị Minh T1 hỏi vay số tiền 400.000.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau đó T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng T7 số 19034939139012 của T1 chuyển khoản đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H số tiền 400.000.000 đồng. Đối với khoản vay này, H vay của T1 trong thời hạn 7 ngày, tiền lãi là 20.000.000 đồng. Đến ngày 14/04/2024 H đã trả cho T1 số tiền gốc là 400.000.000 đồng và tiền lãi là 20.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 1.534.247 đồng, số tiền T1 thu lợi bất chính của H là 18.465.763 đồng.

Lần thứ hai:

Tối ngày 11/4/2024, Nguyễn Thị H liên hệ hỏi vay T1 500.000.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi là 8.000.000 đồng/ngày, T1 đồng ý. Sau đó T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 chuyển số tiền 500.000.000 đồng đến tài khoản V số [...] của H. Đối với khoản vay này, H vay của T1 trong thời hạn 04 ngày từ ngày 12/4/2024 đến ngày 15/4/2024 H đã trả đủ cho T1 500.000.000 đồng tiền gốc và 32.000.000 đồng tiền lãi. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 1.095.890 đồng, số tiền T1 thu lợi bất chính của H là 30.904.110 đồng.

Lần thứ ba:

Sáng ngày 12/4/2024, chị Hoàng Thị T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Flip4 bên trong lắp sim số 0972799840 gọi đến số điện thoại 0978.768.xxx được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max của Nguyễn Thị H để hỏi vay H số tiền 500.000.000 đồng thì H đồng ý. Sau đó chị T2 sử dụng tài khoản Zalo tên “Thuy Hoang” đăng ký bằng số điện thoại 0966.398.xxx nhắn tin gửi tài khoản Ngân hàng L1 số [...] mang tên chồng chị T2 là anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đến tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thị L” của H được đăng ký bằng số điện thoại 0978.768.xxx để H chuyển tiền. Sau đó, H sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thị L” nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Dũng T4” của Vũ Thị Minh T1 được đăng ký bằng số điện thoại 0902.237.xxx hỏi vay T1 số tiền 500.000.000 đồng và hứa trả cho T1 8.000.000 đồng tiền lãi thì T1 đồng ý. Ngay sau đó, T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng T7 số 19034939139012 của T1 chuyển tổng số tiền 500.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H. Khi nhận được tiền từ T1 thì đến 11 giờ 32 phút ngày 12/4/2024, H chuyển hai lần với tổng số tiền 500.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng L1 số [...] cho chị T2 vay.

Lần thứ tư:

Hồi 13 giờ 52 phút ngày 12/4/2024, chị Hoàng Thị T2 nhắn tin qua tài khoản Z hỏi vay Nguyễn Thị H số tiền 200.000.000 đồng. Do không có tiền nên hồi 15 giờ 12 phút ngày 12/4/2024, H nhắn tin qua tài khoản Zalo hỏi vay T1 200.000.000 đồng và hứa trả lãi cho T1 số tiền 2.000.000 đồng, nhưng T1 không trả lời nên H cũng chưa trả lời chị T2. Thấy H không trả lời thì đến hồi 15 giờ 16 phút cùng ngày, chị T2 tiếp tục gọi và nhắn tin qua Z để hỏi vay Huyền 200.000.000 đồng. H tiếp tục nhắn tin cho T1 hỏi vay T1 100.000.000 đồng và hứa trả lãi 1.500.000 đồng. Đến 17 giờ 07 phút ngày 12/4/2024, T1 chuyển khoản cho H vay số tiền 100.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 đến tài khoản V số [...] của H. Sau đó, H lấy 100.000.000 đồng vay của T1 và 100.000.000 đồng tiền của H chuyển khoản 03 lần từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng L1 số [...] của chồng chị T2 là anh Nguyễn Văn T3 với các khoản tiền là 100.000.000 đồng, 90.000.000 đồng, 10.000.000 đồng lúc 17 giờ 14 phút, 17 giờ 33 phút, 17 giờ 47 phút ngày 12/4/2024. Đến 18 giờ 53 phút ngày 12/4/2024, chị T2 nhắn tin qua Z cho H để hỏi tiền lãi và số tài khoản của H với nội dung: “C oi”, “Giờ e gửi về cho c”, “ C xem họ lấy bnhieu tien e gửi ạ”, “C chi e xin stk của c”. Tiếp đó chị T2 gọi điện qua Z cho H để hỏi về tiền lãi, H và chị T2 thống nhất tiền lãi là 10% của khoản vay trên một ngày, thời hạn vay và trả tiền là trong ngày. Đến 19 giờ 04 phút và 19 giờ 05 phút, ngày 12/4/2024, chị T2 chuyển cho H hai khoản tiền 450.000.000 đồng và 320.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng L1 số [...] của anh T3 đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H, bao gồm tiền gốc vay là 700.000.000 đồng và tiền lãi là 70.000.000 đồng, sau đó chị T2 hẹn Huyền sáng mai cho chị T2 vay lại số tiền 700.000.000 đồng này.

Đến trưa ngày 12/4/2024, Nguyễn Thị H cho chị Hoàng Thị T2 vay 500.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 50.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự chị T2 phải trả cho H là 273.973 đồng, số tiền lãi thực tế H nhận của chị T2 gấp 182,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 49.726.027 đồng. Chiều ngày 12/4/2024, H cho chị T2 vay 200.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 20.000.000 đồng. Như vậy, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự chị T2 phải trả cho H là 109.589 đồng, số tiền lãi thực tế H nhận của chị T2 gấp 182,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 19.890.411 đồng.

Sau đó, H chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Vpbanhk số 85300253 của T1 tổng số tiền là 609.500.000 đồng, trong đó gồm 500.000.000 đồng tiền gốc và 8.000.000 đồng tiền lãi, 100.000.000 đồng tiền gốc và 1.500.000 đồng tiền lãi, lần lượt lúc 19 giờ 07 phút, 19 giờ 07 phút, 19 giờ 08 phút, 19 giờ 09 phút, 19 giờ 09 phút ngày 12/4/2024, số tiền này bao gồm 600.000.000 đồng tiền gốc vay và 9.500.000 đồng tiền lãi.

Như vậy, trưa ngày 12/4/2024, T1 cho H vay 500.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 8.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 29,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 273.973 đồng, số tiền T1 thu lời bất chính của H là 7.726.027 đồng. Đến chiều ngày 12/4/2024, T1 cho H vay 100.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 1.500.000 đồng, số tiền lãi này gấp 27,375 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 54.795 đồng, số tiền T1 thu lời bất chính của H là 1.445.025 đồng.

Lần thứ năm:

Hồi 7 giờ 50 phút ngày 13/4/2024, Nguyễn Thị H nhắn tin qua tài khoản Zalo của Vũ Thị Minh T1 để vay số tiền 700.000.000 đồng và hứa trả lãi 11.000.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau đó T1 chuyển khoản cho H 300.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng T7 số 19034939139012 của T1 và 400.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 đến tài khoản V số [...] của H. Sau khi H nhận tiền từ T1 thì H chuyển khoản cho chị T2 số tiền 300.000.000 đồng và 400.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng L1 số [...] cho chị T2 lần lượt lúc 9 giờ 02 phút và 9 giờ 04 phút ngày 13/4/2024.

Lần thứ sáu:

Đến khoảng 9 giờ 50 ngày 13/4/2024, chị T2 tiếp tục gọi điện hỏi vay H số tiền 200.000.000 đồng. Huyền nhắn tin qua tài khoản Zalo của T1 để vay T1 200.000.000 đồng và hứa trả lãi 3.000.000 đồng, T1 chuyển khoản cho H vay số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 đến tài khoản V số [...] của H lúc 10 giờ 10 phút ngày 13/4/2024. Huyền chuyển khoản cho chị T2 vay số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng L1 số [...] của chồng chị T2 là anh Nguyễn Văn T3 lúc 10 giờ 23 phút ngày 13/4/2024.

Trong hai lần vay tiền này thì chị T2 và H không thoả thuận lại về lãi suất nữa mà chị T2 tự chuyển khoản trả cho H các khoản tiền 220.000.000 triệu, 400.000.000 đồng, 200.000.000 đồng, 100.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng L1 số [...] đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H lần lượt lúc 16 giờ 55 phút, 18 giờ 01 phút, 18 giờ 02 phút, 18 giờ 34 phút ngày 13/4/2024. Khi này chị T2 đã chuyển khoản trả cho H tổng số tiền 920.000.000 đồng bao gồm 900.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi của khoản tiền vay 200.000.000 đồng lúc 10 giờ 23 phút ngày 13/4/2024, còn tiền lãi của hai khoản vay 300.000.000 đồng và 400.000.000 đồng chị T2 chưa gửi.

Như vậy, trưa ngày 13/4/2024, H cho chị T2 vay 200.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 20.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 182,5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự chị T2 phải trả cho H ở lần vay này là 109.589 đồng, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 19.890.411 đồng.

Sau khi nhận tiền từ chị T2, H đã chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 trả cho T1 tổng số tiền gốc vay là 900.000.000 đồng và tiền lãi là 14.000.000 đồng gồm các lần chuyển khoản là 203.000.000 đồng, 495.000.000 đồng, 13.000.000 đồng, 203.000.000 đồng lần lượt lúc 16 giờ 57 phút, 18 giờ 13 phút, 18 giờ 14 phút, 18 giờ 53 phút ngày 13/4/2024.

Như vậy, sáng ngày 13/4/2024, T1 cho H vay 700.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 11.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 28,6786 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 383.562 đồng, số tiền T1 thu lời bất chính của H là 10.616.438 đồng. Trưa ngày 13/4/2024, T1 cho H vay 200.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 3.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 27,375 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 109.589 đồng, số tiền T1 thu lời bất chính của H là 2.890.411 đồng.

Lần thứ bẩy:

Đến tối ngày 13/4/2024 chị Hoàng Thị T2 tiếp tục gọi điện qua Z và số điện thoại hỏi vay của Nguyễn Thị H số tiền 300.000.000 đồng. Do không có tiền cho T2 vay nên vào khoảng 19 giờ 02 phút cùng ngày, H nhắn tin qua tài khoản Zalo cho Vũ Thị Minh T1 vay 300.000.000 đồng và hứa trả lãi 5.000.000 đồng, nhưng do hạn mức giao dịch trong tài khoản ngân hàng của T1 bị quá giới hạn trong một ngày nên không chuyển khoản cho H vay được. Do vậy, H lấy số tiền có sẵn trong tài khoản Ngân hàng V số [...] của H chuyển trước 100.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng L1 số [...] cho chị T2 vay lúc 20 giờ 26 phút ngày 13/4/2024. Đến 20 giờ 56 phút ngày 13/4/2024, H tiếp tục nhắn tin qua tài khoản Zalo cho T1 hỏi vay 200.000.000 đồng và hứa trả lãi 3.000.000 đồng, T1 chuyển khoản cho H vay 200.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H lúc khoảng 1 giờ 37 phút ngày 14/4/2024. Do hệ thống của Ngân hàng mà chị T2 sử dụng đang bảo trì không nhận được tiền nên chị T2 gửi số tài khoản Ngân hàng Q số [...] của chị Hoàng Thị T5 sinh năm 1987 trú tại thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội (là chị họ của chị T2) cho H để gửi tiền thì đến 1 giờ 39 phút ngày 14/4/2024, H chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của chị T5, chị T5 đã chuyển khoản lại số tiền này cho chị T2. Đến 1 giờ 43 phút ngày 14/4/2024 chị T2 chuyển khoản cho H số tiền 120.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng L1 số [...] đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H, bao gồm 100.000.000 đồng tiền gốc vay lúc 20 giờ 26 phút ngày 13/4/2024 và 20.000.000 đồng tiền lãi (do chị T2 trả muộn sang ngày hôm sau nên tính lãi thành hai ngày)

Như vậy, tối ngày 13/4/2024, H cho chị T2 vay 100.000.000 đồng và nhận tiền lãi theo thỏa thuận trong hai ngày là 20.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 182,5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự chị T2 phải trả cho H ở lần vay này là 109.589 đồng, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 19.890.411 đồng.

Đến trưa ngày 14/04/2024, chị T2 tự tính tổng tiền gốc và tiền lãi vay rồi chuyển khoản trả cho H tổng số tiền 320.000.000 đồng, gồm các lần chuyển khoản: 80.000.000 đồng, 190.000.000 đồng, 50.000.000 đồng lần lượt lúc: 10 giờ 28 phút, 11 giờ, 11 giờ 14 phút ngày 14/4/2024. Các khoản tiền này bao gồm 200.000.000 đồng tiền gốc vay lúc 1 giờ 39 phút ngày 14/4/2024, 40.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay này và 80.000.000 đồng tiền lãi bao gồm: tiền lãi 10% của khoản vay 300.000.000 đồng và khoản vay 400.000.000 đồng là 70.000.000 đồng, và số tiền 10.000.000 đồng do chậm trả khoản tiền lãi 70.000.000 đồng này.

Như vậy, sáng ngày 13/4/2024, H cho chị T2 vay 700.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 80.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 208,57 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong trong Bộ luật dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự chị T2 phải trả cho H ở lần vay này là 383.562 đồng, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 79.616.438 đồng. Đêm ngày 13/4/2024, H cho chị T2 vay 200.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 40.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 365 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự, chị T2 phải trả cho H ở lần vay này là 109.589 đồng, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 39.890.411 đồng.

Đến 11 giờ 02 phút ngày 14/4/2024, H chuyển khoản trả cho T1 số tiền 210.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng T7 số 19034939139012 của T1, bao gồm 200.000.000 đồng tiền gốc vay lúc 0 giờ 07 phút ngày 14/4/2024 và 10.000.000 đồng tiền lãi do H tự trả.

Như vậy, đêm ngày 13/4/2024, T1 cho H vay 200.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 10.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 91,25 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 109.589 đồng, số tiền T1 thu lời bất chính của H là 9.890.411 đồng.

Lần thứ tám:

Sau khi trả tiền, chị T2 tiếp tục liên hệ hỏi vay H số tiền 800.000.000 đồng. Huyền nhắn tin qua tài khoản Zalo của T1 để hỏi vay T1 số tiền 700.000.000 đồng, hẹn vay trong ngày và trả lãi 11.000.000 đồng, T1 chuyển khoản cho H 03 khoản tiền gồm: 280.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V1 số 85300253 của T1 đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H lúc 11 giờ 08 phút và 220.000.000 đồng, 200.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng T7 số 19034939139012 của T1 đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H lần lượt lúc 11 giờ 08 phút và 11 giờ 12 phút ngày 14/4/2024.

Sau khi nhận tiền từ T1, H chuyển cho chị T2 vay số tiền 800.000.000 đồng gồm 400.000.000 đồng lúc 11 giờ 23 phút và 400.000.000 đồng lúc 11 giờ 24 phút ngày 14/4/2024 từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của H đến tài khoản Ngân hàng L1 số [...]. Đến chiều cùng ngày, chị T2 tự chuyển khoản trả tiền gốc và tiền lãi cho H với tổng số tiền là 870.000.000 đồng, cụ thể, chị T2 đã chuyển khoản 04 lần từ tài khoản Ngân hàng L1 số [...] đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H gồm các khoản tiền: 290.000.000 đồng, 200.000.000 đồng, 260.000.000 đồng, 120.000.000 đồng lần lượt lúc 17 giờ 24 phút, 17 giờ 24 phút, 18 giờ 29 phút và 18 giờ 52 phút ngày 14/4/2024. Đến 22 giờ 15 phút ngày 14/4/2024, chị T2 tiếp tục chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng L1 số [...] đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của H để trả thêm cho H 20.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay 800.000.000 đồng trưa ngày 14/4/2024 kể trên.

Như vậy, trưa ngày 14/4/2024, H cho chị T2 vay 800.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 90.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 205,3125 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự chị T2 phải trả cho H ở lần vay này là 438.356 đồng, số tiền H thu lời bất chính của chị T2 là 89.561.644 đồng

Đến tối ngày 14/4/2024, H gửi trả cho T1 số tiền gốc vay là 700.000.000 đồng và tự gửi số tiền lãi là 11.000.000 đồng.

Như vậy, trưa ngày 14/4/2024, T1 cho H vay 700.000.000 đồng và nhận tiền lãi là 11.000.000 đồng, số tiền lãi này gấp 28,6786 lần mức lãi suất tối đa theo quy định trong Bộ luật dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự H phải trả cho T1 ở lần vay này là 383.562 đồng, số tiền T1 thu lời bất chính của H là 10.616.438 đồng.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 12/04/2024 đến ngày 14/04/2024 Nguyễn Thị H đã cho chị Hoàng Thị T2 vay tổng cộng 07 lần với tổng số tiền là 2.700.000.000 đồng với mức lãi suất từ 10%/ngày đến 20%/ngày tương đương mức lãi suất 3650%/năm đến 7300%/năm, gấp từ 182,5 lần đến 365 lần mức lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự. Tổng số tiền gốc chị T2 đã trả cho H là 2.700.000.000 đồng, tổng số tiền lãi H đã nhận của chị T2 là 320.000.000 đồng, tổng số tiền lãi phải trả tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 1.534.247 đồng, tổng số tiền H thu lợi bất chính là 318.465.753 đồng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 07/04/2024 đến ngày 15/04/2024 Vũ Thị Minh T1 đã cho Nguyễn Thị H vay tổng cộng 08 lần với tổng số tiền là 3.300.000.000 đồng với mức lãi suất từ 0,7143%/ngày đến 5%/ngày tương đương mức lãi xuất 260,7%/năm đến 1825%/năm, gấp từ 13,035 lần đến 91,25 lần mức lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự. Tổng số tiền gốc H đã trả cho T1 là 3.300.000.000 đồng, tổng số tiền lãi T1 đã nhận của H là 96.500.000 đồng, tổng số tiền lãi phải trả tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự là 3.945.205 đồng, tổng số tiền T1 thu lợi bất chính là 92.554.795 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, lắp sim số ICCID 8984048000051109744 do Nguyễn Thị H giao nộp.

Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định khôi phục dữ liệu tin nhắn bị xóa, thu hồi trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max thu giữ của Nguyễn Thị H.

Tại Bản kết luận giám định số 699/KLGĐ-KTHS-KTS&ĐT ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận:

  • - Tìm thấy 06 dữ liệu tin nhắn Z đã bị xoá giữa tài khoản Zalo mang tên: “Nguyễn Thị L” với tài khoản Zalo mang tên: “Thuy Hoang” lưu trữ trên điện thoại di động gửi giám định.
  • - Tìm thấy 04 dữ liệu tin nhắn Z đã bị xoá giữa tài khoản Zalo mang tên: “Nguyễn Thị L” với tài khoản Zalo mang tên: “Chi Giang T6” lưu trữ trên điện thoại di động gửi giám định từ ngày 01/4/2024 đến ngày 07/5/2024.
  • - Tìm thấy 02 dữ liệu tin nhắn Z đã bị xoá giữa tài khoản Zalo mang tên: “Nguyễn Thị L” với tài khoản Zalo mang tên: “Dũng T1” lưu trữ trên điện thoại di động gửi giám định.
  • (Chi tiết dữ liệu tìm thấy được thể hiện trong phụ lục gửi kèm theo)
  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS (đã bị xoá, thu hồi) trong điện thoại di động gửi giám định với số điện thoại “+84972799840” từ ngày 01/4/2024 đến ngày 07/5/2024.
  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS (đã bị xoá, thu hồi) trong điện thoại di động gửi giám định với số điện thoại “+84969585855” từ ngày 01/4/2024 đến ngày 07/5/2024.

Ngày 09/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định bổ sung khôi phục dữ liệu tin nhắn bị xóa, thu hồi trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max thu giữ của Nguyễn Thị H.

Tại Bản kết luận giám định số 903/KLGĐ-KTHS-KTS&ĐT ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận:

  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn Zalo (đã bị xoá, thu hồi) giữa tài khoản Zalo mang tên: “Nguyễn Thị L” với tài khoản Zalo mang tên: “Chi Giang T6” lưu trữ trên điện thoại di động gửi giám định từ ngày 01/7/2023 đến ngày 31/3/2024.
  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS (đã bị xoá, thu hồi) trong điện thoại di động gửi giám định với số điện thoại “+84969585855” từ ngày 01/7/2023 đến ngày 31/3/2024.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT- VKS ngày 10/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Thị Minh T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự”, theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Minh T1, Nguyễn Thị H phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự”.

Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thị Minh T1 từ 120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) đến 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu triệu đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng) đến 350.000.000đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng).

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

  • - Buộc bị cáo Vũ Thị Minh T1 nộp lại số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là 1.800.000.000đồng (tiền gốc) và 3.945.205đồng (tiền lãi). Tổng là 1.803.945.205đồng (Một tỷ, tám trăm linh ba triệu, chính trăm bốn mươi lăm nghìn, hai trăm linh năm đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
  • Trả cho bị cáo Nguyễn Thị H số tiền thu lời bất chính là 92.554.795đồng (Chín hai triệu, năm trăm năm tư nghìn, bảy trăm chín mươi lăm đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị H nộp lại số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là 300.000.000đồng (tiền gốc) và 1.534.247đồng (tiền lãi). Tổng là 301.534.247đồng (Ba trăm linh một triệu, năm trăm ba tư nghìn, hai trăm bốn mươi bảy đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
  • Trả cho chị Hoàng Thị T2 số tiền bị cáo thu lợi bất chính của chị T2 là 318.465.753đồng (Ba trăm mười tám triệu, bốn trăm sáu lăm nghìn, bảy trăm năm ba đồng).
  • - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max lắp sim số ICCID 8984048000051109744 thu giữ của Nguyễn Thị H.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không có ý kiến bào chữa tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các Quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 12/04/2024 đến ngày 14/04/2024, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, chị Hoàng Thị T2 sử dụng điện thoại di động liên lạc qua Zalo với Nguyễn Thị H để vay tiền. H đã 07 lần cho chị T2 vay tổng số tiền là 2.700.000.000 đồng với mức lãi suất 10%/ngày đối với các khoản vay, trả tiền đúng hẹn và 11,25%/ngày; 11,4286%/ngày; 20%/ngày đối với các khoản vay, trả tiền muộn so với thoả thuận tương đương mức lãi suất 3650%/năm; 4106,25%/năm; 4171,439%/năm; 7300%/năm, gấp từ 182,5 lần đến 365 lần mức lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính tổng số tiền 318.465.753 đồng.

Trong thời gian từ ngày 07/04/2024 đến ngày 15/04/2024, Vũ Thị Minh T1 đã 08 lần cho Nguyễn Thị H vay tổng số tiền là 3.300.000.000 đồng với mức lãi suất 0,7143%/ngày; 1,6%/ngày; 1,5%/ngày; 1,5714%/ngày; 5%/ngày tương đương mức lãi suất 260,7%/năm; 584%/năm; 547,5%/năm; 573,571%/năm; 1825%/năm, gấp từ 13,035 lần đến 91,25 lần mức lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính tổng số tiền 92.554.795 đồng.

Theo Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì.

  1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
  2. Phạm tội thu lời bất chính từ 100.000.000đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000đồng đến 1.000.000.000đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Vũ Thị Minh T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo Nguyễn Thị H bị bệnh nặng, có bố đẻ là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Minh T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội hai lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội chỉ vì mục đích tư lợi; bị cáo Vũ Thị Minh T1 phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chỉ cần áp dụng loại hình phạt phù hợp, đúng mục đích là hình phạt tiền đối với các bị cáo là đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo.

[5] Biện pháp tư pháp: Quá trình cho vay lãi nặng, bị cáo Vũ Thị Minh T1 có cho bị cáo Nguyễn Thị H vay quay vòng số tiền gốc 1.800.000.000đồng và đã thu số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật 20%/năm là 3.945.205đồng (ba triệu, chín trăm, bốn mười lăm nghìn, hai trăm linh năm đồng) của H nên cần buộc bị cáo phải nộp lại sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 92.554.795đồng (Chín hai triệu, năm trăm năm tư nghìn bảy trăm chín lăm đồng) là tiền bị cáo thu lời bất chính của Nguyễn Thị H nên buộc bị cáo phải trả lại cho H.

Đối với, bị cáo Nguyễn Thị H cho chị Hoàng Thị T2 vay quay vòng số tiền gốc 300.000.000đồng và đã thu số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật 20%/năm của chị T2 là 1.534.247đồng (một triệu, năm trăm, ba mười tư nghìn, hai trăm bốn bảy đồng) cần buộc bị cáo phải nộp lại sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 318.465.753đồng (Ba trăm mười tám triệu, bốn trăm sáu lăm nghìn bảy trăm năm ba đồng) là tiền bị cáo thu lời bất chính của chị T2 nên buộc bị cáo phải trả lại cho chị T2.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max lắp sim số ICCID 8984048000051109744 thu giữ của Nguyễn Thị H, là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Minh T1, Nguyễn Thị H phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị Minh T1 120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
  3. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 300.000.000đồng ( Ba trăm triệu đồng).
  4. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    1. Buộc bị cáo Vũ Thị Minh T1 nộp lại số tiền 1.803.945.205đồng (Một tỷ, tám trăm linh ba triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn, hai trăm linh năm đồng) để sung Ngân sách Nhà nước và trả cho bị cáo Nguyễn Thị H số tiền thu lời bất chính là 92.554.795đồng (Chín hai triệu, năm trăm năm tư nghìn, bảy trăm chín mươi lăm đồng).
    2. Buộc bị cáo Nguyễn Thị H nộp lại số tiền 301.534.247đồng (Ba trăm linh một triệu, năm trăm ba tư nghìn, hai trăm bốn mươi bảy đồng) để sung Ngân sách Nhà nước và trả cho chị Hoàng Thị T2 số tiền bị cáo thu lợi bất chính của chị T2 là 318.465.753đồng (Ba trăm mười tám triệu, bốn trăm sáu lăm nghìn, bảy trăm năm ba đồng).
  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max lắp sim số ICCID 8984048000051109744 thu giữ của Nguyễn Thị H.
  7. (Cụ thể chi tiết vật chứng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Mô).
  8. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Vũ Thị Minh T1, Nguyễn Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đồng.

Án xử sở thẩm công khai, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án Dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND, VKSND tỉnh Ninh Bình.
  • - VKSND- Huyện YM.
  • - Bị cáo, Người CQLNVLQ,
  • - Cơ quan THA- CA.TNB.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS - ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 09/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H và đồng phạm phạm tội " Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger