Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ M'GAR

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HSST

Ngày: 18 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Phạm Đức Hạnh
  • - Bà Nguyễn Thị Thu Ba

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Q2 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1979, tại tỉnh : Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; con ông: Quách Sang (đã chết) và con bà: Trần Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị Hồng T– sinh năm 1979, bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/9/2024 đến 18/9/2024 thì được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Hồng T4 – sinh năm 1979; địa chỉ: Số A Q, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Dương Thị T1 – sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Nguyễn Thị T2 – sinh năm 1982; địa chỉ: Số A T, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Phạm Thị Ánh H1 – sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Nguyễn Thị Lệ Q – sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Hồ Thị Thu T3 – sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Mai Thị Q1 – sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Bà Trần Thị L – sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Ông Bùi Trọng N – sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
  • - Ông Hoàng Minh H2 – sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình sinh sống tại địa phương, Quách Thanh S thấy việc cho vay tiền với lãi suất cao nhanh được thu lợi nên đã nảy sinh ý định và trực tiếp cho người dân tại huyện C vay tiền với lãi suất cao. Khi người dân có nhu cầu vay tiền sẽ liên hệ với S qua số điện thoại 0945.930.xxx hoặc tài khoản Zalo, mang tên “Sơn Quách”. Do hầu hết những người vay tiền đều là người ở cùng địa phương và có quen biết nên S không đến nhà để xác minh và giữ giấy tờ hay tài sản gì của người vay. S sử dụng số tài khoản 0945930099 mở tại Ngân hàng M và số tài khoản 0231000645016 mở tại Ngân hàng V mang tên Quách Thanh S để chuyển tiền cho người vay và yêu cầu người vay chuyển trả tiền lãi và tiền gốc theo thỏa thuận. S cho vay tiền dưới 02 hình thức tiền đứng và tiền góp:

  • - Đối với hình thức cho vay tiền góp: Nếu cho vay số tiền 5.000.000 đồng, sẽ đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 100.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, khi thu đủ S sẽ thu được 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.000.000 đồng tiền lãi; Nếu cho vay số tiền 10.000.000 đồng, sẽ đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, khi thu đủ S sẽ thu được 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi;
  • - Đối với hình thức cho vay tiền đứng: S cho vay với mức lãi suất từ 1.500 đồng/01 triệu/01 ngày đến 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 54,7%/năm đến 146%/năm và 10 ngày phải đóng tiền lãi một lần cho đến khi trả hết tiền gốc.

Trong thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 8/2024, S đã trực tiếp cho vay tiền, thu tiền gốc và tiền lãi của 09 người dân trên địa bàn huyện C, tỉnh Đắk Lắk, với tổng số tiền cho vay 380.000.000 đồng, thu lợi bất chính 52.839.205 đồng. Đến nay, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra và có đủ căn cứ xác định 09 người vay tiền của Quách Thanh S, cụ thể, như sau:

1. Bà Nguyễn Hồng T4 vay 09 lần dưới hình thức vay tiền góp, lãi suất 121,66%/năm. Cụ thể:

  • - Lần 1: Tháng 10/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 08/02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 3: Ngày 01/3/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 4: Ngày 04/4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 5: Ngày 22/4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 6: Ngày 21/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 7: Ngày 09/6/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 8: Ngày 16/8/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 9: Ngày 09/9/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Chị T4 đã trả tiền gốc, bị can S không thu tiền lãi còn lại.

Tổng số tiền S cho chị T4 vay là 90.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 13.369.863 đồng

2. Chị Dương Thị T1 vay 03 lần dưới hình thức vay tiền góp và tiền đứng, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 23/02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 30 ngày, mỗi ngày đóng 400.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 243%/năm. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 164.384 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 164.384 đồng = 1.835.616 đồng.
  • - Lần 2: Tháng 3/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 121,66%/năm. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767đ, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 3: Ngày 01/6/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 121,66%/năm. Khoản vay này S đã thu được 02 ngày, với số tiền 400.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 333.333 đồng, tiền lãi là 66.667 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.959 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 66.667 đồng – 10.959 đồng = 55.708 đồng.

Sau đó, chị T1 không có khả năng tiếp tục đóng tiền góp nên giữa S và chị T1 thỏa thuận giữ nguyên số gốc 10.000.000 đồng và chuyển sang hình thức vay tiền đứng, 01 tháng phải đóng cho S 1.200.000 đồng tiền lãi cho đến khi trả hết số tiền gốc, tương ứng lãi suất 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. Từ tháng 6/2024 đến ngày 03/9/2024, chị T1 đã trả cho S được 3.400.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 465.753đ, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 3.400.000 đồng – 465.753 đồng = 2.934.247 đồng. Tiền gốc 10.000.000 đồng chị T1 đã trả cho S.

Tổng số tiền S cho chị T1 vay là 30.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 6.496.804 đồng

3. Chị Nguyễn Thị T2 vay 02 lần dưới hình thức vay tiền góp, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 22/11/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 121,66%/năm. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 2: Tháng 3/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 121,66%/năm. Khoản vay này S đã thu được 11.500.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, trong đó 9.583.333 đồng tiền gốc và 1.916.667 đồng tiền lãi, chị T2 còn nợ lại 500.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 1.916.667 đồng – 328.767 đồng= 1.587.900 đồng.

Tổng số tiền S cho chị T2 vay là 20.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 3.259.133 đồng

4. Chị Phạm Thị Ánh H1 vay 10 lần dưới hình thức vay tiền góp, với mức lãi suất 121,66%/năm và vay tiền đứng, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 20/9/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 29/10/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 3: Tháng 11/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 4: Tháng 12/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 5: Tháng 01/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 6: Tháng 02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 7: Tháng 03/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 8: Tháng 04/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 9: Tháng 05/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 10: Tháng 06/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu được 12 ngày, với số tiền 2.400.000 đồng, trong đó tiền gốc là 2.000.000 đồng, tiền lãi là 400.000 đồng, chị H1 còn nợ lại 48 ngày, với số tiền 9.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 65.753 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 400.000 đồng – 65.753 đồng = 334.247 đồng.

Sau đó S với chị H1 thỏa thuận với nhau đối với số tiền gốc 10.000.000 đồng, sẽ chuyển sang hình thức vay tiền đứng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, cứ 10 ngày phải đóng tiền lãi một lần. Khoản vay này S đã thu được 900.000 đồng tiền lãi, chị H1 đã trả lại 10.000.000 đồng tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 164.384 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 900.000 đồng – 164.384 đồng = 735.616 đồng.

* Đối với hình thức vay tiền đứng: Ngày 08/10/2023, vay 5.000.000 đồng, với lãi suất 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng mức lãi suất 146%/năm. Khoản vay này S đã thu được 600.000 đồng tiền lãi, chị H1 đã trả 5.000.000 đồng tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 82.192đ, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 600.000 đồng – 82.192 đồng = 517.808 đồng.

Tổng số tiền S cho chị H1 vay là 105.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 16.628.766 đồng

5. Chị Nguyễn Thị Lệ Q vay 03 lần dưới hình thức vay tiền góp, với mức lãi suất 121,66%/năm, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 10/9/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 2: Tháng 11/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu đủ 10.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.000.000 đồng – 328.767 đồng = 1.671.233 đồng.
  • - Lần 3: Tháng 5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này S đã thu được 25 ngày với số tiền 5.000.000 đồng, trong đó tiền gốc là 4.166.667 đồng, tiền lãi là 883.333 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 136.986 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 883.333 đồng – 136.986 đồng = 746.347 đồng. Chị Q đã trả hết tiền gốc còn lại cho S và S không thu thêm tiền lãi.

Tổng số tiền S cho chị Q vay là 30.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 4.088.812 đồng

6. Chị Hồ Thị Thu T3, ngày 21/3/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức vay tiền góp, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày đóng 400.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 121,66%/năm. Khoản vay này, S đã thu đủ 20.000.000 đồng tiền gốc và 4.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 657.534 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 4.000.000 đồng – 657.534 đồng = 3.342.466 đồng.

7. Chị Mai Thị Q1, khoảng tháng 02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng tiền gốc và tiền lãi, tương ứng mức lãi suất 121,66%/năm. Khoản vay chị Q1 đã trả được 10 ngày, với số tiền 2.000.000 đồng, trong đó 1.666.667 đồng tiền gốc và 333.333 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 54.794₫, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 333.333 đồng – 54.794 đồng =278,538 đồng. Tiền gốc còn lại chị Q1 đã trả cho bị can S.

8. Chị Trần Thị L vay 02 lần, vay trả góp, mức lãi suất 121,66%/năm, cụ thể:

  • - Lần 1: Khoảng tháng 5/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày 100.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản nay này chị L đã đóng đủ 5.000.000 đồng tiền gốc và 1.000.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 164.384 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 1.000.000 đồng – 164.384 đồng =835.616 đồng.
  • - Lần 2: Khoảng tháng 7/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, đóng trong 60 ngày, mỗi ngày 100.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này chị L đã đóng được 52 ngày, với số tiền 5.200.000 đồng, trong đó 4.333.334 đồng tiền gốc và 8.666.666 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 142.465 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 866.666 đồng –142.466 đồng = 724.200 đồng.

Tổng số tiền S cho chị L vay là 10.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 1.559.817 đồng

9. Anh Bùi Trọng N vay 02 lần lãi đứng, mức lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 15/3/2024, vay số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, cứ 10 ngày thì đóng tiền lãi 01 lần là 1.500.000 đồng. Khoản vay này anh N đã đóng đủ 50.000.000 đồng tiền gốc và 4.500.000 đồng tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 821.917 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 4.500.000 đồng - 821.917 đồng = 3.687.083 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 25/8/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, cứ 10 ngày thì đóng tiền lãi 01 lần là 450.000 đồng. Đối với khoản vay này thì anh N chưa đóng tiền lãi cho S. Anh N đã trả toàn bộ tiền gốc cho S.

Tổng số tiền S cho anh N vay là 65.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 3.687.083 đồng

Như vậy, tổng số tiền gốc Quách Thanh S cho 09 người dân trên vay là 380.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 62.866.666 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.164.384 đồng, tổng số tiền Quách Thanh S thu lợi bất chính 52.702.282 đồng

Ngoài ra Quách Thanh S còn cho 02 người vay với lãi suất cao từ 54,75%/năm đến 73%/năm, cụ thể:

1. Anh Hoàng Minh H2 vay 04 lần dưới hình thức vay tiền đứng, cụ thể như sau:

  • - Lần 1: Ngày 11/02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 1.500 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương số tiền 450.000 đồng/30 ngày, cứ 10 ngày đóng lãi 01 lần. Khoản vay này anh H2 đã đóng được 05 tháng tiền lãi, với số tiền 2.250.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 821.917đ, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 2.250.000 đồng - 821.917 đồng =1.437.083 đồng.
  • - Lần 2: Cuối tháng 02/2024, vay số tiền 40.000.000 đồng, với lãi suất 1.500 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương số tiền 1.800.000₫/ 30 ngày, cứ 10 ngày đóng lãi 01 lần. Khoản vay này anh H2 đã đóng được 04 tháng tiền lãi, với số tiền 7.200.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 2.630.136 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 7.200.000 đồng - 2.630.136 đồng = 4.569.864 đồng.
  • - Lần 3: Tháng 3/2024, vay số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất 1.500 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương số tiền 2.250.000 đồng/ 30 ngày, cứ 10 ngày đóng lãi 01 lần. Khoản vay này anh H2 đã đóng được 04 tháng tiền lãi, với số tiền 9.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 3.287.671 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 9.000.000 đồng - 3.287.671 đồng= 5.712.329 đồng.
  • - Lần 4: Ngày 20/4/2024, vay số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất 2.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương số tiền 3.000.000 đồng/ 30 ngày, cứ 10 ngày đóng lãi 01 lần. Khoản vay này anh H2 đã đóng được 02 tháng tiền lãi, với số tiền 6.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.643.835 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 6.000.000 đồng-1.643.835 đồng=4.356.165 đồng.

Đến tháng 06/2024, thì anh H2 trả cho S số tiền gốc 20.000.000 đồng, còn nợ lại 30.000.000 đồng tiền gốc và tiếp tục đóng 01 tháng tiền lãi với số tiền là 3.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 493,150 đồng, S đã thu lợi bất chính số tiền là: 3.000.000 đồng – 493.150 đồng = 2.506.850 đồng.

Tổng số tiền S cho anh H2 vay là 150.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 18.582.291 đồng.

2. Chị Hồ Thị Thu T3 vay cụ thể như sau:

  • - Lần 1: Ngày 26/7/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, đóng trong 120 ngày, mỗi ngày đóng 100.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Khoản vay này bị can đã thu được 53 ngày, với số tiền 5.300.000 đồng. Trong đó, tiền gốc là 4.416.667 đồng, tiền lãi là 883.333 đồng, lãi cao nhất theo quy định là 290.410 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 883.333 đồng – 290.410 đồng = 592.923 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 20/7/2024, S cho chị T3 vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 2000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương 3.000.000 đồng/30 ngày, bị can S đã thu được 5.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi cao nhất theo quy định là 1.369.863 đồng, S thu lợi bất chính: 3.630.017 đồng
  • - Lần 3: Ngày 23/8/2024 S cho chị T3 vay tiếp 50.000.000 đồng, lãi suất lãi suất 2000 đồng/01 triệu/01 ngày, S đã thu được 2.000.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi cao nhất theo quy định là 547.945 đồng, S thu lợi bất chính: 1.452.055 đồng

Tổng số tiền S cho chị T3 vay là 110.000.000 đồng. S thu lợi bất chính tổng số tiền là 5.674.995 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc Quách Thanh S cho 02 người dân trên vay là 260.000.000 đồng, tổng số tiền Quách Thanh S thu lợi bất chính là 24.257.286 đồng.

* Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được được vượt quá 20%/1 năm của khoản tiền vay, trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực, cụ thể cách tính lãi suất:

(Số tiền lãi : số tiền gốc) x 100%) x 365 ngày
Lãi suất năm =Số ngày cho vay
(% năm)
Lãi suất năm
Lãi suất vượt quá =20%

Trong khoảng thời gian từ ngày tháng 9/2023 đến tháng 8/2024, bị cáo Quách Thanh S đã cho 09 người nêu trên vay tiền, tổng số tiền gốc cho vay là: 380.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi bị cáo S thu được là: 62.866.666 đồng, trong đó tiền lãi theo quy định của pháp luật là: 10.164.384 đồng, bị cáo S thu lợi bất chính là: 52.702.282 đồng. Lãi suất bị cáo S cho vay từ 109,5%/năm đến 243,3%/năm, gấp 5,47 lần đến 12,16 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Quách Thanh S về tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Quách Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đối với số tiền 500.000 đồng mà bà Nguyễn Thị T2 chưa trả cho bị cáo thì bị cáo không yêu cầu bà T2 phải trả cho bị cáo.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quách Thanh S phạm tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Quách Thanh S mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 15/9/2024 đến ngày 18/9/2024.

Đối với tổng số tiền gốc mà bị cáo Quách Thanh S đã cho 09 người nêu trên vay là 380.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét truy thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm (mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự) mà bị cáo Quách Thanh S đã thu được từ những người vay với tổng số tiền là: 10.164.384 đồng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét truy thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 52.702.282 đồng bị cáo Quách Thanh S thu lợi bất chính từ những người đã vay tiền, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo trả cho những người này, cụ thể:

  • + Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng T4 số tiền 13.369.863 đồng.
  • + Trả cho chị Dương Thị T1 số tiền 6.496.804 đồng.
  • + Trả cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 3.259.133 đồng.
  • + Trả cho chị Phạm Thị Ánh H1 số tiền 16.628.766 đồng.
  • + Trả cho chị Nguyễn Thị Lệ Q số tiền 4.088.812 đồng.
  • + Trả cho chị Hồ Thị Thu T3 số tiền 3.342.466 đồng.
  • + Trả cho chị Trần Thị L số tiền 1.559.817 đồng.
  • + Trả cho chị Mai Thị Q1 số tiền 278.538 đồng.
  • + Trả cho anh Bùi Trọng N số tiền 3.678.083 đồng.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, số IMEI: 359156079950348; gắn thẻ sim mạng Vinaphone, số thuê bao 0945.930.xxx, số seri 89840200010698764552 là tài sản của bị cáo Quách Thanh S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Đối với bà Nguyễn Thị Hồng T (vợ của Quách Thanh S) không biết được việc Quách Thanh S thực hiện hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không xem xét xử lý.

Đối với hành vi của Quách Thanh S cho anh Hoàng Minh H2 và Hồ Thị Thu T3 vay lãi suất từ 54,75%/năm đến 73%/năm đã vượt quá lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Chủ tịch UBND huyện C M'gar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 155/QĐ-XPHC, ngày 21/01/2025 bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 15.000.000đồng.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai mà bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 8/2024, trên địa bàn huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Quách Thanh S đã có hành vi cho cho 09 người khác vay tiền với mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 243,3%/năm, gấp từ 5,47 lần đến 12,16 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự, đã thu lợi bất chính số tiền là 52.702.282 đồng.

Hành vi của bị cáo Quách Thanh S đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

....".

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Quách Thanh S là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ mà còn mang tính chất bóc lột, gây bất bình trong dư luận xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Quách Thanh S là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo là phù hợp.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy động cơ mục địch nhằm thu lợi bất chính do vậy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Quách Thanh S.

[3] Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng của vụ án:

  • + Đối với số tiền 500.000 đồng mà bà Nguyễn Thị T2 chưa trả cho bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu bà T2 phải trả do đó không đặt ra xem xét giải quyết.
  • + Đối với số tiền 380.000.000 đồng tiền gốc và số tiền 10.164.384 đồng là tiền lãi theo quy định, (lãi suất 20% mà người vay đã trả cho các bị cáo), là tiền liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần truy thu của bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.
  • + Đối với số tiền 52.702.282 đồng bị cáo đã thu lợi bất chính từ những người đã vay tiền cần buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay tiền, cụ thể:
  • - Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng T4 số tiền 13.369.863 đồng.
  • - Trả cho chị Dương Thị T1 số tiền 6.496.804 đồng.
  • - Trả cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 3.259.133 đồng.
  • - Trả cho chị Phạm Thị Ánh H1 số tiền 16.628.766 đồng.
  • - Trả cho chị Nguyễn Thị Lệ Q số tiền 4.088.812 đồng.
  • - Trả cho chị Hồ Thị Thu T3 số tiền 3.342.466 đồng.
  • - Trả cho chị Trần Thị L số tiền 1.559.817 đồng.
  • - Trả cho chị Mai Thị Q1 số tiền 278.538 đồng.
  • - Trả cho anh Bùi Trọng N số tiền 3.678.083 đồng.
  • + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, số IMEI: 359156079950348; gắn thẻ sim mạng Vinaphone, số thuê bao 0945.930.xxx, số seri 89840200010698764552 là công cụ phương tiện bị cáo Quách Thanh S sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí:

Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Quách Thanh S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Quách Thanh S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian đã bắt tạm giữ từ ngày 16/9/2024 đến ngày 18/9/2024, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự tỉnh Đắk Lắk nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Quách Thanh S cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Quách Thanh S

[2] Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Quách Thanh S số tiền 30.000.000 đồng.

[3] Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Quách Thanh S số tiền 390.164.384 đồng.
  • + Buộc bị cáo Quách Thanh S phải có nghĩa vụ trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người đã vay tiền của bị cáo, cụ thể:
  • - Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng T4 số tiền 13.369.863 đồng.
  • - Trả cho chị Dương Thị T1 số tiền 6.496.804 đồng.
  • - Trả cho chị Nguyễn Thị T2 số tiền 3.259.133 đồng.
  • - Trả cho chị Phạm Thị Ánh H1 số tiền 16.628.766 đồng.
  • - Trả cho chị Nguyễn Thị Lệ Q số tiền 4.088.812 đồng.
  • - Trả cho chị Hồ Thị Thu T3 số tiền 3.342.466 đồng.
  • - Trả cho chị Trần Thị L số tiền 1.559.817 đồng.
  • - Trả cho chị Mai Thị Q1 số tiền 278.538 đồng.
  • - Trả cho anh Bùi Trọng N số tiền 3.678.083 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, số IMEI: 359156079950348; gắn thẻ sim mạng Vinaphone, số thuê bao 0945.930.xxx, số seri 89840200010698764552, đã qua sử dụng của bị cáo Quách Thanh S.

[4] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

  • + Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Thanh S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • + Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Thanh S phải chịu 2.635.114 đồng, tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điểu 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận :

  • - Vụ GĐKT I, TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Cư M'gar;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - THADS huyện Cư M'gar,;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (PC10);
  • - Bị cáo;
  • - Người có ql&nv liên quan;
  • - Lưu: HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Huỳnh Văn Dự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự (hình sự)

  • Số bản án: 09/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger