|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HSST Ngày 17 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Khang
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
- Họ và tên: NGUYỄN LÊ QUỐC T, sinh ngày 13/02/2000; tại tỉnh Bạc Liêu;
ĐKHKTT: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (chết) và bà Lê Thị N; Tiền án: 02; Bản án Hình sự sơ thẩm số 42/2021/HSST ngày 09/7/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/11/2024 (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Trần Trung T1, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/6/2024, Nguyễn Lê Quốc T đi từ nhà thuộc ấp A, xã P, thị xã G đến vuông nuôi tôm của Trần Trung T1 ngụ cùng ấp, thấy các miệng lú (dụng cụ đặt để bắt tôm) dưới vuông của T1 treo lên khỏi mặt nước nên Nguyễn Lê Quốc T đã đặt 05 cái lú xuống nước để bắt tôm. Đến khoảng 01 giờ ngày 25/6/2024, Nguyễn Lê Quốc T mang theo 01 thùng nhựa, 01 cái rổ và 01 cây dao Thái Lan đi đến vuông tôm của Trần Trung T1 để đổ lú bắt tôm; Khi đến nơi, Nguyễn Lê Quốc T đã trộm được tôm trong 02 cái lú, khi đến trộm tôm trong lú thứ 3 thì bị Trần Trung T1 truy hô, bắt giữ và trình báo Công an xã P. Qua kiểm tra, Nguyễn Lê Quốc T chiếm đoạt của Trần Trung T1 40 con tôm, có tổng trọng lượng bằng 1,4kg.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thị xã G kết luận: 40 con tôm sú có tổng trọng lượng 1,4kg có giá trị thành tiền bằng 238.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra Nguyễn Lê Quốc T còn khai nhận: Ngày 16/10/2024, tại ấp A, xã P, thị xã G, Nguyễn Lê Quốc T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy cắt cỏ hiệu Honda GX35 của ông Nguyễn Văn S. Sau đó, mang máy cắt cỏ bán cho ông Huỳnh Tấn T2 với số tiền 600.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thị xã G kết luận: 01 máy cắt cỏ hiệu Honda GX35 có giá trị thành tiền bằng 1.700.000 đồng.
Về nhân thân Nguyễn Lê Quốc T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích.
Cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Lê Quốc T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lê Quốc T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Quốc T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Quốc T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cái thùng, 01 cái rổ và 01 cây dao Thái Lan. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai bị cáo Nguyễn Lê Quốc T tại phiên tòa sơ thẩm cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào ngày 25/6 và ngày 16/10/2024 bị cáo Nguyễn Lê Quốc T đã hai lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác cụ thể như sau:
[2.1] Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ, ngày 25/6/2024, tại ấp A, xã P, thị xã G, bị cáo T chiếm đoạt của bị hại Trần Trung T1 40 con tôm sú, có tổng trọng lượng bằng 1,4kg. Qua định giá, tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại T1 có giá trị bằng 238.000 đồng.
[2.2] Lần thứ hai: Ngày 16/10/2024, tại ấp A, xã P, thị xã G, bị cáo T đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 máy cắt cỏ hiệu Honda GX35 của ông Nguyễn Văn S. Qua định giá, tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại S có giá trị bằng 1.700.000 đồng.
[3] Bị cáo Nguyễn Lê Quốc T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; Tính đến thời điểm thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Trần Trung T1 và Nguyễn Văn S bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án trên.
Theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt ......tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Đã bị kết án về tội này..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Do đó, các hành vi nêu trên (phần [2]) của bị cáo Nguyễn Lê Quốc T đã đủ yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai đã truy tố. Cần phải được xử phạt nghiêm theo tội danh và hình phạt mà điều luật đã quy định.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú về hành vi phạm tội ngày 16/10/2024 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cả hai lần bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm và bị cáo có tiền án về tội cố ý gây thương tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi giao lại cho bị hại; Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không giải quyết.
[6] Về vật chứng, đối với 01 thùng nhựa màu trắng, đường kính 30cm, cao 35,5cm; 01 cây dao Thái Lan tổng chiều dài 21cm và 01 cái rổ bằng nhựa, màu đỏ đường kính 28cm, cao 10cm là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, có giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Quốc T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Quốc T 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 17/11/2024.
- Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: Một cái thùng nhựa màu trắng không rõ nhãn hiệu, đường kính 30cm, cao 35,5cm; Một cây dao Thái Lan không rõ nhãn hiệu tổng chiều dài 21cm, cán nhựa màu cam dài 10cm, thân sắt, mũi dao nhọn và một cái rổ bằng nhựa màu đỏ không rõ nhãn hiệu, đường kính 28cm, cao 10cm.
(Vật chứng được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Lê Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhân :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Khang |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lê Quốc T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị 2.800.000 đồng
