TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 14-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và ông Nguyễn Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà và ông Nguyễn Lương Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Nhà văn hóa Tổ dân phố B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đồng Văn T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/7/1990; Nơi thường trú: xóm H, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn D và bà Nguyễn Thị G; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S từ ngày 16/12/2024 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến:
- + Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1969; Trú tại: Tổ dân phố K, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
- + Ông Lưu Văn T1, sinh năm 1958; Trú tại: Tổ dân phố P, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, Tổ công tác Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Tổ dân phố (TDP) Khu Y, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Đồng Văn T đang đi bộ trên vỉa hè khu vực đường Q, có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T tự nguyện lấy từ túi quần dài bên phải ra giao nộp cho Tổ công tác 01 gói giấy màu trắng, bên trong là túi nilon có chứa chất bột màu trắng, T khai nhận là chất ma túy, loại Heroine, T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng trên và niêm phong kí hiệu A. Cùng ngày Công an phường C chuyển bàn giao Hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố S phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T mở gói niêm phong bì ký hiệu A thu giữ của Đồng Văn T tiến hành cân khối lượng, kết quả: Số chất bột màu trắng trên có khối lượng là 3,492 gam. Sau khi cân, chất bột màu trắng trên được niêm phong vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định theo quy định. .
Tại Bản kết luận giám định số 43/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký giệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng là 3,492 gam.
Tại Cơ quan CSĐT điều tra bị can Đồng Văn T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy từ năm 2018 đến nay. Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 16/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T đi bộ trên vỉa hè đường Q hướng Thái Nguyên đi Hà Nội, khu vực ngã tư Khu công nghiệp S, để tìm mua ma túy sử dụng. Đi được khoảng 500m, T gặp một người đàn ông đeo khẩu trang kín mặt đứng trên vỉa hè, do được những người bạn nghiện khác giới thiệu, T biết người đàn ông trên có bán ma túy. T tiến lại gần, hỏi mua ma túy thì người đàn ông trên đồng ý. T đưa cho người đàn ông này số tiền 1.500.000 đồng, người này cầm tiền rồi chỉ tay xuống lề đường cách vị trí T đứng khoảng 5m, nói: “Hàng em để ở kia, anh ra đấy mà lấy” rồi điều khiển xe mô tô rời đi. T đi đến vị trí trên, nhặt 01 gói giấy màu trắng, bên trong là túi nilon có chứa chất bột màu trắng, có chứa ma túy loại Heroine lên rồi cất giấu trong túi quần bên phải và tiếp tục đi bộ trên đường Q, hướng Thái Nguyên đi Hà Nội để tìm nơi sử dụng, khi đến đoạn đường thuộc TDP K, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì bị Tổ công tác Công an phường C, thành phố S phát hiện và bắt quả tang, thu giữ số ma túy nêu trên.
Quá trình điều tra, bị can Đồng Văn T đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. .
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 3,477 gam chất ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A, gói giấy màu trắng và bỏ túi nilon màu trắng được bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đồng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đồng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 3,477 gam chất ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A, gói giấy màu trắng và vỏ túi nilon màu trắng.
Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, tại TDP K, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Đồng Văn T đang tàng trữ trái phép 3,492 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường C, thành phố S phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[7] Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một người đàn ông tại khu vực ngã tư Khu công nghiệp S, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở xác minh, làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Đồng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Đồng Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 3,477 gam chất ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A, gói giấy màu trắng và vỏ túi nilon màu trắng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/02/2025 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND TP. Sông Công;
- - Cơ quan THAHS TP Sông Công;
- - Chi cục THADS TP Sông Công;
- - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên;
- - UBND nơi bị cáo cư trú;
- - Bị cáo, người TGTT khác;
- - Lưu: HS; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
