Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 14-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thế Sự;

Ông Nguyễn Khắc Quyết.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Viết C, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số B, tổ I, N, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; vợ là Bùi Thị Phương T (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 26-9-2024 thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh từ ngày 28-02-2025; có mặt.

2. Lưu Duy H, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn L (đã chết) và bà Lê Thị T1; vợ là Đặng Thùy V (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 05-01-2024 của Công an quận Đ xử phạt tiền 6.500.000đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23-9-2024; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Sỹ L1, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn E, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Bùi Văn M, sinh năm 2005; nơi cư trú: Khu I, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

Chị Bùi Thị H1, anh Phạm Ngọc Đ, chị Hoàng Thị N2; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15-5-2024, Lê Viết C là nhân viên của quán K đi xe mô tô đến quán K1 thuộc khu B, phường V, quận Đ, Hải Phòng thì gặp Nguyễn Sĩ L2 là nhân viên của quán K1. Giữa C và L2 xảy ra mâu thuẫn to tiếng với nhau trong việc đưa đón nhân viên. L2 đi xe mô tô đến khu vực trước cửa nhà hàng B thuộc khu B, V, quận Đ, Hải Phòng thì C đi xe mô tô đuổi theo chặn đầu xe của L2 lại. Cả hai cãi chửi nhau, C dùng tay phải tát một cái vào má trái, đấm một cái vào vùng cằm của L2. L2 dùng tay phải đấm một cái vào vùng mặt trái C. C chạy vào quán bi-a đối diện nhà hàng B do Lưu Duy H làm chủ để lấy gậy bi-a đánh L2. Do bênh vực C, H dùng tay phải tát một cái vào đầu L2. C lấy được một chiếc gậy bi-a cầm ở tay phải giơ lên vụt một cái vào người L2, L2 giơ tay phải lên đỡ làm chiếc gậy trúng vào tay L2, C tiếp tục cầm gậy bi-a giơ lên vụt một cái trúng vai phải của L2 làm chiếc gậy bi-a bị gãy làm hai đoạn, một đoạn rơi xuống đường, một đoạn C vẫn cầm ở tay phải. Thấy L2 bị đánh, Bùi Văn M là nhân viên quán K1 chạy đến giằng đoạn gậy từ tay C nhưng không được. Do bênh vực C, H chạy đến dùng hai tay đẩy vào người M làm M ngã ra đường. H thấy đoạn gậy bi-a rơi ở dưới đất cầm để cất đi thì M cho rằng H cầm đoạn gậy bi-a để đánh C lên lao vào giằng có đoạn gậy bi-a trên tay H. Trong quá trình giằng co đoạn gậy bi-a va vào vùng má trái M. Lúc này, C dùng đoạn gậy bi-a vụt một cái vào đầu L2, một cái vào má phải của L2. M giằng co đoạn gậy bi-a trên tay H không được, cả hai không tiếp tục giằng co nữa thì lúc này L2 chạy đến giơ đoạn gậy bi-a đang cầm ở tay phải lên cao vụt khoảng 03-04 cái vào đầu M, M đưa tay phải lên đỡ thì bị ngã ra đất. C vất đoạn gậy bi-a xuống đất rồi tiếp tục lấy một cây gậy bi-a khác tháo thành hai đoạn định tiếp tục đánh M thì được mọi người can ngăn. Sau đó, L2 và M được đưa đi bệnh viện điều trị thương tích.

Quá trình kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, Công an phường V, quận Đ thu giữ 04 đoạn gậy bi-a bằng gỗ, trong đó: 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 74cm, đầu gậy có đường kính 01cm, đuôi gậy có đường kính 02cm; 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc trắng dài 75cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm; 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 73cm, đầu gậy có đường kính 01cm, đuôi gậy có đường kính 02cm; 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc vàng dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm.

Kết quả xác định hiện trường:

Hiện trường nơi xảy là vụ án là khu vực lòng đường, vỉa hè trước cửa nhà hàng B, phường V, quận Đ, Hải Phòng (đường chưa được đặt tên); hướng Đ1 là đường V, hướng Tây là đường V, hướng Bắc là nhà hàng L3, hướng Nam là nhà hàng B; mặt đường rộng 6,5m.

Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 488/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 02-7-2024 của Trung tâm P kết luận thương tích của Nguyễn Sĩ L2: “sẹo vết thương gò má phải kích thước nhỏ; không tụ máu nội sọ, không tổn thương nhu mô não, không tổn thương xương sọ, xương hàm mặt; điện não đồ không thấy bất thường; tụ máu mi hốc mắt phải đã khỏi không thấy để lại dấu vết, hai mắt thị lực bình thường. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương gò má phải gây nên là 03%. Tụ máu mi hốc mắt phải đã khỏi không thấy để lại dấu vết, hai mắt thị lực bình thường, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Thương tích có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên”.

Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 490/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 02-7-2024 của Trung tâm P kết luận thương tích của Bùi Văn M: “Sẹo vết thương cung mày trái kích thước nhỏ; không tổn thương nhu mô não, không tụ máu nội sọ, không tổn thương xương sọ, xương hàm mặt; điện não đồ không thấy bất thường; hai mắt giảm thị lực hiện tại chưa thấy tổn thương thực thể do chấn thương gây giảm thị lực tại nhãn cầu. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương cung mày trái gây nên là 03%. Hai mắt giảm thị lực, hiện tại chưa thấy tổn thương thực thể do chấn thương gây giảm thị lực tại nhãn cầu nên không có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, thương tích có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên”.

Đại diện tổ tự quản khu II, phường V và Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ xác định vụ việc xảy ra gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa bàn khu du lịch, đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Viết C, Lưu Duy H đã liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Sĩ L2, anh Bùi Văn M 100.000.000đồng. Anh L2, anh M không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Viết C, Lưu Duy H về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Về chứng cứ của vụ án: 04 đoạn gậy bi-a bằng gỗ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSĐS ngày 04-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Viết C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Truy tố Lưu Duy H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi khi bị Lê Viết C đánh, Nguyễn Sĩ L2 đã dùng tay đánh trả lại một cái trúng vào mặt C. Xét tính chất, mức độ hành vi và nhân thân L2 chưa có tiền án, tiền sự nên Công an quận Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPHC ngày 18-12-2024 đối với Nguyễn Sỹ L1.

Đối với Bùi Văn M chỉ vào can ngăn C, H đánh L1, không đánh nhau với C, H nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Lê Viết C từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” và ấn định thời gian thử thách với bị cáo là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạt tiền bị cáo Lưu Duy H từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H đã liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Sĩ L2, anh Bùi Văn M 100.000.000đồng. Những người này không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội gồm:

  • - 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, đuôi gậy có đường kính 02cm;
  • - 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc trắng dài 75cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm;
  • - 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 73cm, đầu gậy có đường kính 01cm, đuôi gậy có đường kính 02cm;
  • - 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc vàng dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh:

[3] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định, biên bản xác định hiện trường, phù hợp với vật chứng thu giữ được, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15-5-2024, tại khu vực lòng đường, vỉa hè đối diện nhà hàng B thuộc khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng Lê Viết C có hành vi sử dụng tay chân, gậy bi-a; Lưu Duy H có hành vi dùng tay đánh nhau gây thương tích cho anh Nguyễn Sĩ L2, anh Bùi Văn M, làm anh L2, anh M mỗi người bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Hành vi của C, H ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại nơi công cộng. Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H đều là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc xô xát, đánh nhau tại nơi công cộng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng đến sức khoẻ của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của Lê Viết C, Lưu Duy H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Lê Viết C có hành vi dùng gậy bi-a là hung khí để thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, do đó hành vi phạm tội của bị cáo Lê Viết C đã vi phạm tình tiết định khung “dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự như đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo Lưu Duy H có hành vi dùng tay tát một cái vào má L2 để răn đe không cho L2 và C đánh nhau; khi thấy bị cáo C đánh L2, một đầu gậy rơi ra H chạy đến nhặt lên mục đích cất gậy đi không để cho C tiếp tục đánh nhau nữa, không may M chạy đến giằng lại thì vô tình bị gậy bi-a va vào má. Bị cáo H không dùng hung khí để gây rối, không tiếp nhận ý chí của C khi C cầm gậy bi-a đánh L2, M cũng như không giúp sức cho C đánh L2, M nên chỉ đủ căn cứ xử lý hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Duy H theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến các quy tắc trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý thỏa đáng.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b; s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về vai trò: Trong vụ án này các bị cáo đều tham gia vào hành vi đánh nhau, gây rối tại khu vực công cộng. Bị cáo C có vai trò là người thực hành tích cực, cầm gậy bi-a đánh L2, M làm L2, M mỗi người bị thương tích 03%. Đối với Lưu Duy H cũng tham gia vào việc gây mất trật tự công cộng, tuy nhiên H không dùng gậy bi-a đánh L2, M mà chỉ tát L2 01 cái để răn đe. Vì vậy vai trò của Lưu Duy H thấp hơn Lê Viết C.

[9] Về hình phạt chính:

Xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Đối với bị cáo Lê Viết C, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; bị cáo phạm tội bắt nguồn từ việc mâu thuẫn với L2 từ trước, sau khi được can ngăn đáng ra sự việc đã có thể dừng lại thì M lại lao vào giữ tay chân để L2 đánh C, điều đó dẫn đến bị cáo C bị kích động, không làm chủ được bản thân, đã cầm gậy bi-a đánh L2, M, gây mất trật tự công cộng. Bị cáo C có nơi cư trú rõ ràng, có xác nhận của chính quyền địa phương, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường cho anh L2, M; anh L2 và anh M đều có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, khoan hồng cho bị cáo, cho bị cáo C được cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời nên áp dụng mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

Đối với bị cáo Lưu Duy H, xét thấy bị cáo H tham gia với vai trò đồng phạm không đáng kể, bản thân bị cáo H không cầm gậy bi-a để đánh L2, M, có nơi cư trú rõ ràng, có xác nhận của chính quyền địa phương, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu tại Mục [7]. Tại phiên tòa, bị cáo H đề nghị được phạt tiền và có khả năng nộp phạt. Việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Bởi vậy, áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền bị cáo Lưu Duy H.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H đã liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Sĩ L2, anh Bùi Văn M 100.000.000đồng. Những người này không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và không còn yêu cầu, đề nghị nào khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:

  • - 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, đuôi gậy có đường kính 02cm;
  • - 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc trắng dài 75cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm;
  • - 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 73cm, đầu gậy có đường kính 01cm, đuôi gậy có đường kính 02cm;
  • - 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc vàng dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm.

Đây đều là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Lê Viết C đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Viết C 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Viết C cho Ủy ban nhân dân phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” số 04/2025/QĐ-TA ngày 04-3-2025 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Lê Viết C.

Trong trường hợp bị cáo Lê Viết C thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày, tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Lưu Duy H đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Phạt tiền Lưu Duy H số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu)đồng.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 05/2025/HSST-QĐCĐKNCT ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Lưu Duy H.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H đã liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Sĩ L2, anh Bùi Văn M 100.000.000đồng. Những người này không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và không còn yêu cầu, đề nghị nào khác nên vấn đề dân sự các bên đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, đuôi gậy có đường kính 02cm;
  • - 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc trắng dài 75cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm;
  • - 01 đoạn đầu gậy màu vàng nhám dài 73cm, đầu gậy có đường kính 01cm, đuôi gậy có đường kính 02cm;
  • - 01 đoạn đuôi gậy màu vàng nâu đen sọc vàng dài 74cm, đầu gậy có đường kính 02cm, có gắn khớp nối bằng kim loại, đuôi gậy có đường kính 03cm.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng với Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo Lê Viết C, Lưu Duy H đều có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Sỹ L1, anh Bùi Văn M đều vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
  • - VKSND TP.Hải Phòng;
  • - PV 06; PC10 Công an TP.Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Đồ Sơn;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - Các Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger