|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 14/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chu Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà Trần Phương Anh – Nguyên Bí thư huyện đoàn huyện Lạc Dương.
- + Ông Đoàn Quang Giao – Chánh thanh tra nhà nước huyện Lạc Dương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử kín theo trình tự sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với:
- Bị cáo:
Họ và tên: Pang Ting Khánh D1, sinh ngày 30/4/2006, tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Cơ Ho (Lạch); Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: không rõ cha; Con bà: Pang Ting M, sinh năm: 1976; Gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2019, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/10/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ L – Công an tỉnh L.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Bà Phùng Thị Tố U – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Đặng Phương A, sinh ngày 21/10/2009.
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:
Ông Đặng Văn L, sinh năm: 1979 và bà Nguyễn Thị Phương D, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Ông L vắng mặt, bà D có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Vương Thị Phương C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Pang Ting M, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/7/2024, P và Đặng Phương A quen nhau thông qua mạng xã hội Facebook. Quá trình trò chuyện thông qua M1 – Facebook, Khánh D1 biết Phương A sinh năm 2009, hiện là học sinh lớp 9; đồng thời, Khánh D1 và Phương A phát sinh quan hệ tình cảm. Ngày 15/7/2024, trong lúc trò chuyện với Khánh D1 thông qua M1 – Facebook, Phương A biết bố mẹ của cháu đi vắng cả ngày nên đã rủ Khánh D1 đến nhà Phương A tại TDP Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng 14 giờ, Khánh D1 mua 04 bao cao su và mang đến nhà Phương A, Phương A dẫn Khánh D1 đi lên tầng 2, vào phòng của Phương A. Tại đây, Khánh D1 và Phương A ngồi trên giường trò chuyện với nhau, tiếp đó, trong lúc cùng nằm trên giường, Khánh D1 đã nắm tay và hôn vào môi, vào má của Phương A rồi nằm đè lên người Phương A và tiếp tục hôn môi, dùng tay sờ vào ngực của Phương A. Sau đó, Khánh D1 ngồi dậy, dùng tay cởi quần của Phương A ra thì Phương A có ngăn cản nhưng Khánh D1 nói D1 có mang theo bao cao su thì Phương A đồng ý. D1 cởi quần, áo của Phương A ra rồi tự cởi quần, áo của D1 ra. D1 lấy từ trong bóp (ví) của D1 01 chiếc bao cao su, xé vỏ bao làm rách bao cao su nên D1 lấy 01 chiếc bao cao su khác rồi bọc vào dương vật của D1. Phương A đang nằm ngửa nên D1 cầm dương vật của D1 đút vào trong âm đạo của cháu Phương A và đã giao cấu với Phương A khoảng 01 phút thì xuất tinh. Sau đó, D1 rút dương vật ra và đi vào nhà vệ sinh bên cạnh phòng để cởi bỏ bao cao su, dùng giấy lau chùi dương vật rồi gói chiếc bao cao su vừa sử dụng vào trong mảnh giấy này và bỏ vào sọt rác trong phòng vệ sinh. Sau đó, D1 và Phương A tiếp tục trò chuyện với nhau thêm khoảng 30 phút thì D1 đi về.
Ngày 16/7/2024, Phương A tiếp tục rủ Khánh D1 đến nhà Phương A. Khoảng 14 giờ cùng ngày, D1 đến nhà Phương A và Phương A dẫn D1 lên phòng của Phương A. Tại đây, sau khi trò chuyện, Khánh D1 và Phương A cùng nằm trên giường ôm, hôn nhau; Khánh D1 ngồi dậy, dùng tay cởi quần của Phương A ra rồi tự cởi quần, áo của D1 ra, D1 lấy từ trong bóp (ví) của D1 02 chiếc bao cao su rồi bọc cả 02 chiếc bao cao su vào dương vật của D1. Phương A đang nằm ngửa nên D1 cầm dương vật của D1 đút vào trong âm đạo của Phương A. D1 giao cấu với Phương A khoảng 30 giây thì Phương A quay người lại, chống tay xuống giường rồi D1 đút dương vật vào âm đạo của Phương A từ phía sau nhưng không được nên D1 nói Phương A nằm ngửa ra rồi đút dương vật của D1 vào âm đạo của Phương A. D1 tiếp tục giao cấu với Phương A khoảng hơn 01 phút thì xuất tinh vào trong bao cao su. Sau đó, D1 rút dương vật ra và đi vào nhà vệ sinh bên cạnh phòng để cởi bỏ bao cao su, dùng giấy lau chùi dương vật rồi gói chiếc bao cao su vừa sử dụng vào trong mảnh giấy này và bỏ vào sọt rác trong phòng vệ sinh. Sau đó, D1 và Phương A tiếp tục trò chuyện với nhau thêm khoảng 30 phút thì D1 đi về.
Quá trình Khánh D1 thực hiện hành vi “giao cấu” và các hành vi quan hệ tình dục khác với Đặng Phương A vào ngày 15/7/2024 và ngày 16/7/2024, Đặng Phương A tự nguyện, Khánh D1 không có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để ép buộc Phương A để thực hiện hành vi “giao cấu” và các hành vi quan hệ tình dục khác với Đặng Phương A.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 23/7/2024 tại nhà anh Đặng Văn L (cha ruột của cháu Phương A) tại TDP Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đã thu giữ 03 mẫu giấy vệ sinh đã qua sử dụng tại thùng rác trong nhà vệ sinh cạnh phòng ngủ của cháu Đặng Phương A, 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Kết luận giám định số 44/KLTDTE-PYLĐ, ngày 31/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Màng trinh của Đặng Phương A bị rách cũ, vị trí 3 giờ và 6 giờ. Không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo của Đặng Phương A.
Kết luận giám định số 458/24/KLGÐADN-PYQG, ngày 20/8/2024 của V kết luận:
- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên chiếc bao cao su, mẫu giấy vệ sinh thứ nhất và thứ ba: Dương tính.
- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên mẫu giấy vệ sinh thứ hai: Âm tính;
- Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên mẫu giấy vệ sinh thứ nhất và thứ ba: Dương tính.
- Thử định tính phát hiện nhanh vết tinh dịch người trên chiếc bao cao su và mẫu giấy vệ sinh thứ hai: Âm tính.
- ADN của nam giới thu được từ mẫu giấy vệ sinh thứ nhất trùng khớp hoàn toàn với ADN của P trên tất cả các Losus STR đã so sánh.
- ADN của nữ giới thu từ chiếc bao cao su, mẫu giấy vệ sinh thứ nhất và thứ ba trùng khớp hoàn toàn với ADN của Đặng Phương A trên tất cả các Losus STR đã so sánh. Không thu được dữ liệu ADN từ mẫu giấy vệ sinh thứ hai trên Losus STR đã phân tích nên không thể so sánh với ADN của Đặng Phương A và P.
- ADN của nam giới thu từ mẫu giấy vệ sinh thứ ba có các alen trùng với các alen của P trên tất cả các Losus Y-STR đã so sánh.
- Không thu được dữ liệu ADN của nam giới từ chiếc bao cao su các Losus STR,Y- STR đã phân tích nên không thể so sánh với ADN của P.
Kết luận giám định số 44/KLTDTE-PYLĐ ngày 31/7/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh L kết luận: “Tại thời điểm giám định màng trinh của Đặng Phương A rách cũ vị trí 3 giờ và 6 giờ; Tại thời điểm giám định không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo của Đặng Phương A; Tại thời điểm giám định Đặng Phương A không có thai”.
Giấy khai sinh (Bản sao) số 262/2009, đăng ký ngày 23/11/2009 tại UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An và căn cước công dân số [...], cấp ngày 27/3/2024 của cháu Đặng Phương A xác định cháu Đặng Phương A sinh ngày 21/10/2009.
Giấy chứng sinh số 201, ngày 30/4/2006 của Trung tâm Y tế huyện L, giấy khai sinh số 068, ngày 18/6/2006 của UBND thị trấn L, huyện L và Căn cứ căn cước công dân số [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 16/4/2021 của P xác định Pang Ting K sinh ngày 30/4/2006.
Vật chứng: Thu giữ trong nhà vệ sinh trong phòng cháu Đặng Phương A: 01 (một) mảnh giấy vệ sinh, kích thước (9,5 x 7,5) cm, trên bề mặt giấy có dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 (một) mảnh giấy vệ sinh, kích thước (13 x 10,5) cm, trên bề mặt giấy có dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) mảnh giấy vệ sinh, kích thước (15,5 x 9) cm, trên bề mặt giấy có dính chất màu nâu đỏ và chất màu ố vàng, bên trong mảnh giấy có 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng (bao cao su có kích thước 10,5cm x 3,5 cm), trên bề mặt bao cao su có dính chất màu nâu đỏ. Sau khi giám định, CQ giám định hoàn lại 01 bao cao su. Phương A giao nộp: 01 (một) quần Jean màu xám, kích thước (100 x 37)cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, kích thước (63 x 53)cm; 01 (một) áo ngực (loại áo hai dây) màu da, có kích thước (70 x 15)cm; 01 (một) quần lót nữ màu đen, kích thước (22 x 21)cm; 01 (một) quần dài nỉ màu trắng, kích thước (92 x 50)cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, kích thước (62 x 47)cm; 01 (một) áo lót (loại áo bra) màu đen, có kích thước (33 x 30)cm; 01 (một) quần lót nữ màu tím, kích thước (34 x 16)cm.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSLD ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương truy tố bị cáo Pang Ting Khánh D1 về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Pang Ting Khánh D1 phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 145; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Pang Ting Khánh D1 mức hình phạt từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù;
Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Người bào chữa: về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo thì tôi không có ý kiến. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo là người mới vừa đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, bị cáo là người dân tộc thiểu số và hoàn cảnh gia đình thuộc hộ nghèo nên có phần hạn chế về khả năng nhận thức pháp luật, sau khi phạm tội thì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại và được đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo thì tôi không có ý kiến. Bị hại là người chưa đủ 16 tuổi, là đối tượng được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em nên đề nghị hội đồng xét xử xử lý nghiêm minh đối với bị cáo.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị Phương D có mặt tại phiên tòa, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận, xin lỗi người bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng cùng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt: bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc xâm phạm đến sức khỏe tình dục và danh dự nhân phẩm của người đang trong độ tuổi đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bằng việc lợi dụng sự non nớt trong nhận thức về tình cảm và sức khỏe tình dục của người bị hại, thông qua việc nhắn tin làm quen trên phần mềm Messenger – Facebook, bị cáo đã thiết lập quan hệ tình cảm với người bị hại là cháu Đặng Phương A sinh ngày 21/10/2009. Vào các ngày 15/7/2024 và 16/7/2024, tại phòng của cháu Đặng Phương A trong nhà ông Đặng Văn L tại tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, Pang Ting K đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với Đặng Phương A. Tại thời điểm P thực hiện quan hệ tình dục với người bị hại thì cháu Đặng Phương A ở độ tuổi 14 tuổi 08 tháng 25 ngày.
Tại Kết luận giám định số 44/KLTDTE-PYLĐ ngày 31/7/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh L kết luận: “Tại thời điểm giám định màng trinh của Đặng Phương A rách cũ vị trí 3 giờ và 6 giờ; Tại thời điểm giám định không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo của Đặng Phương A; Tại thời điểm giám định Đặng Phương A không có thai”.
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Pang Ting Khánh D1 phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Bị cáo đã thực hiện 02 lần giao cấu với người bị hại trong các ngày 15/7/2024 và 16/7/2024.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương truy tố bị cáo với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt có xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã tích cực bồi thường thiệt hại và được người bị hại cùng người đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến sức khỏe tình dục, danh dự nhân phẩm và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người bị hại là người chưa đủ 16 tuổi được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng). Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý đối với một số vật chứng thu giữ theo đúng quy định của pháp luật; vật chứng còn lại của vụ án là 01 (một) chiếc bao cao su đã qua sử dụng, tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: bị cáo Pang Ting Khánh D1 phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 145; các điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Pang Ting Khánh D1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2024.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bao gói vật chứng sau giám định là 01 (một) chiếc bao cao su đã qua sử dụng.
(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Dương).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Pang Ting Khánh D1 phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Bình |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào các ngày 15/7/2024 và 16/7/2024, tại phòng của cháu Đặng Phương Anh trong nhà ông Đặng Văn Long tại tổ dân phố Đan Kia, thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, Pang Ting Khánh Duy đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với Đặng Phương Anh. Tại thời điểm Pang Ting Khánh Duy thực hiện quan hệ tình dục với người bị hại thì cháu Đặng Phương Anh ở độ tuổi 14 tuổi 08 tháng 25 ngày.
