Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ QUAO

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Danh Út Nhỏ.
  2. Ông Lý Tuấn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Văn Á, sinh ngày 01/01/1986, nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD số: [...] nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ú và bà Nguyễn Thị C, vợ là Nguyễn Thị Cẩm H và 01 con sinh năm 2021. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can tạm giam số 274 ngày 09/9/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang (bắt ngày 10/9/2024), có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp F, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Huỳnh Hữu Đ, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
  2. Bà Võ Cẩm H1 (tự: H2), sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
  3. Bà Trần Thị Bé B, sinh năm 1961. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
  4. Chị Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

- Người làm chứng:

  1. Ông Hàng Văn M, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
  2. Anh Phan Văn K, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
  3. Bà Thị N1, sinh năm 1948. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
  4. Ông Phan Thanh T, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 08/2023 (âm lịch) anh Nguyễn Văn N, trú tại ấp F, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang có đến xã V, huyện G gặp Phan Văn Á để hợp đồng làm cò lúa (đặt cọc cho các hộ dân khi đến ngày thu hoạch mua lúa, Á được hưởng tiền trên sản lượng lúa trên tấn, mỗi tấn là 50.000 đồng). Vào đầu vụ Thu Đ1 ông năm 2023, anh N có giao tiền mặt và chuyển khoản cho Phan Văn Á số tiền là 810.000.000 đồng. Đến ngày thu hoạch vụ Thu Đ1 năm 2023 sau khi anh N nhận được lúa xong thì còn dư lại số tiền 450.000.000 đồng; anh N và Á thống nhất để lại số tiền 450.000.000 đồng này làm tiền đặt cọc lúa vụ Đông Xuân năm 2024. Do tin tưởng nên anh N không trực tiếp đi đặt cọc lúa cùng với Á, Á có tự lập danh sách khống các hộ dân đã nhận tiền đặc cọc là 368.000.000 đồng để đối phó với anh N. Phan Văn Á thông báo cho anh N thời gian thu hoạch lúa vụ Đông Xuân năm 2024 bắt đầu từ ngày 21/3/2024. Trước ngày thu hoạch khoảng 2 - 3 ngày, anh N có gọi cho Á, nhưng không liên lạc được. Sau đó anh N có qua nhà tìm thì được biết Á đã bỏ đi khỏi địa phương. Thời gian sau anh N đã nhiều lần đến gặp gia đình của Á và có gọi điện thoại cho Á vẫn không liên lạc được. Đến tháng 5/2024, anh N mới làm đơn tố giác Phan Văn Á đến cơ quan công an về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của Á.

Quá trình điều tra xác định: Anh Nguyễn Văn N và Phan Văn Á có làm ăn qua lại với nhau trong việc thu mua lúa của các hộ dân trên địa bàn xã V, huyện G từ tháng 8/2023, anh N đưa tiền cho Á đặt cọc lúa xong Á có trách nhiệm thu gom lúa giao cho anh N. Trong vụ T 2023 Á có đặt cọc và thu mua lúa cho anh N đúng thời gian, đảm bảo đủ số lượng lúa thu mua. Trong vụ Đông X năm 2024 bị cáo Á tiêu xài cá nhân hết tiền nên Á đã lập danh sách tổng số 38 hộ dân với số tiền kê khai đã đặt cọc lúa cho anh N là 368.000.000 đồng. Trong số danh sách 38 hộ dân trên, Á chỉ có đặt cọc số tiền thực tế và duy nhất cho một người là ông Hàng Văn M, trú tại V, xã V với số tiền là 5.000.000 đồng. Số còn lại là bị cáo tự kê khống danh sách, để tạo niềm tin việc Á đã đặt cọc lúa cho anh N, sau đó đổ lỗi anh N không qua thu mua đúng thời gian quy định nên bị mất tiền cọc. Quá trình điều tra bị cáo Á đã thừa nhận hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt số tiền 363.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi ba triệu đồng) của anh N, toàn bộ số tiền mà bị cáo Á nhận từ anh N đã sử dụng vào việc đánh bạc và thua kết, còn địa điểm đánh bạc thì không nhớ rõ.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSND-GQ ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn Á về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ, bà ngoại là bà mẹ Việt Nam anh hùng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Văn Á mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự; đề nghị HĐXX buộc Phan Văn Á bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn N số tiền cọc lúa là 430.000.000 đồng và số tiền nợ mua bán lúa giống còn thiếu là 83.320.000 đồng, tổng cộng là 513.320.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Hữu Đ, bà Trần Thị Bé B1 và những người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn Á khai nhận đã lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Văn N do có làm ăn qua lại trong việc làm cò lúa, sau khi anh N nhận lúa Thu Đông năm 2023 xong thì còn dư lại số tiền 450.000.000 đồng; anh N và Á thống nhất hợp đồng để lại cho bị cáo Á giữ số tiền 450.000.000 đồng này làm tiền đặt cọc lúa vụ Đông Xuân năm 2024; sau khi nhận được tiền bị cáo Á đã dùng thủ đoạn gian dối đã lập khống danh sách 37 hộ dân đã nhận tiền cọc, nhằm để đối phó với anh N, với mục đích chiếm đoạt số tiền 363.000.000 đồng. Đến hẹn nhận lúa, anh N nhiều lần gọi điện cho bị cáo Á, nhưng không liên lạc được. Sau đó anh N có qua nhà tìm thì được biết bị cáo Á đã bỏ đi khỏi địa phương. Đến ngày 13/5/2024, anh N làm đơn tố giác Phan Văn Á về hành vi chiếm đoạt tài sản.

[4] Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với nội dung bản cáo trạng số số 04/CT-VKSND-GQ, ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định bị cáo Phan Văn Á đã thực hiện hành vi lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Văn N với thủ đoạn gian dối đã lập khống danh sách 37 hộ dân nhận tiền cọc lúa, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 363.000.000 đồng của bị hại, toàn bộ số tiền chiếm đoạt này bị cáo dùng việc đánh bạc và thua hết nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự quy định tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tàu sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm...”.

[5] Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phan Văn Á là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ nhất định để nhận thức được quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng với bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo bất chấp pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; hành vi của bị cáo còn làm mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội; cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân có ích và phòng ngừa chung.

[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tài liệu lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ, bà ngoại là Bà mẹ Việt Nam anh hùng nên Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên sau phát hiện sự việc xảy ra, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm và đến ngày 10/9/2024 bị cáo bị bắt nên cũng cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn N yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền cọc lúa là 430.000.000 đồng và tiền nợ mua bán lúa giống còn thiếu là 83.320.000 đồng, tổng hai khoảng là 513.320.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa giao nộp nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh N tổng cộng là 513.320.000 đồng.

[8] Đối với Phan Văn Á có phát sinh tranh chấp nợ với anh Huỳnh Hữu Đ số tiền 53.500.000 đồng, bà Võ Cẩm H1 36.000.000 đồng, bà Trần Thị B1 Ba 21.000.000 đồng; qua làm việc giữa các bên đã tự thỏa thuận xong. Trường hợp bị cáo Phan Văn Á không thực hiện đúng theo thỏa thuận thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 175, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Á phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn Á 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành án tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2024.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Phan Văn Á phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn N số tiền nhận cọc lúa là 430.000.000 đồng và tiền nợ mua bán lúa giống còn nợ là 83.320.000 đồng, tổng hai khoảng là 513.320.000 đồng (Năm trăm mười triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án. Nếu bên phải thi hành chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phan Văn Á phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 24.532.800 đồng, tổng hai khoản án phí bị cáo phải nộp là 24.732.800 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn tám trăm đồng).

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 11/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện KSND huyện Gò Quao;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Quao;
  • - Bị cáo; Những người TGTT;
  • - Trại tạm giam – CAKG;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tôn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn A phạm tội Lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger