|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/DS - ST.
Ngày: 06 - 3 - 2025.
V/v “tranh chấp đòi lại tài sản (nợ hụi)”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thabg Rực.
Ông Thạch Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2024/TLST – DS, ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp đòi lại tài sản (nợ hụi)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST - DS, ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ P, sinh năm: 1986; địa chỉ: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Dương Ngọc D, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 02/12/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P trình bày:
Bà Trần Thị Mỹ P làm chủ hụi, bà Dương Ngọc D là hụi viên có tham gia nhiều dây hụi do bà P với thời gian và số tiền cụ thể như sau:
Hụi tháng 3.000.000 đồng, khui ngày 25/06/2023 âm lịch, tổng cộng 21 phần, bà D vô 01 phần hụi, bà D hốt ngày 25/06/2023, hốt được 47.000.000 đồng, bà D đóng lại được 06 lần là 18.000.000 đồng, còn 14 lần chưa đóng là 42.000.000 đồng.
Hụi 10 ngày 500.000 đồng, khui ngày 07/02/2023 âm lịch, tổng cộng 42 phần, bà D vô 01 phần, bà D hốt ngày 27/03/2023 âm lịch, hốt được 16.000.000 đồng, bà D đóng lại được 27 lần là 13.500.000 đồng, còn 09 lần chưa đóng là 4.500.000 đồng.
Hụi tuần 300.000 đồng, khui ngày 17/12/2023 âm lịch, tổng cộng 40 phần, bà D vô 01 phần, bà D hốt ngày 24/12/2023 âm lịch, hốt được 8.850.000 đồng, bà D đóng lại được 01 lần là 230.000 đồng, còn 37 lần chưa đóng là 11.100.000 đồng và bà D có nợ hụi cũ chưa đóng là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Tại biên bản hòa giải ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng ngày 08/9/2024 thì bà D và bà P đã chốt nợ hụi lại. Bà D có nợ bà P số tiền hụi là 61.600.000 đồng. Bà P cho bà D trả mỗi tháng là 1.500.000 đồng đến khi dứt nợ nhưng bà D không trả cho bà P.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P yêu cầu bị đơn bà Dương Ngọc D trả cho bà P số tiền còn nợ hụi là 61.600.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Dương Ngọc D trình bày: Bà Trần Thị Mỹ P làm chủ hụi, bà D là hụi viên có tham gia những phần hụi như nguyên đơn trình bày. Theo biên bản hòa giải tại ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 08/9/2024 thì bà D đã chốt nợ hụi với bà P còn lại số tiền 61.600.000 đồng và bà D thỏa thuận sẽ trả mỗi tháng là 1.500.000 đồng đến khi dứt nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên không trả được và trong quá trình giải quyết bị đơn bà Dương Ngọc D thừa nhận còn nợ nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P số tiền nợ hụi là 61.600.000 đồng. Do hoàn cảnh khó khăn xin trả mỗi tháng là 500.000 đồng đến khi hết nợ hụi.
- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P và buộc bị đơn bà Dương Ngọc D hoàn trả cho nguyên đơn số tiền hụi là 61.600.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy, tại biên bản hòa giải cơ sở ngày 08/9/2024 bà Trần Thị Mỹ P và bà Dương Ngọc D đã chốt nợ hụi. Bà D còn nợ bà P số tiền hụi là 61.600.000 đồng và tại phiên tòa bà P yêu cầu bà D hoàn trả số tiền hụi còn nợ là 61.600.000 đồng và các bên không có tranh chấp gì về hợp đồng góp hụi. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 166, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “tranh chấp đòi lại tài sản (nợ hụi)”.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn Dương Ngọc D hiện cư trú tại ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn bà Dương Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà D.
[4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P và bị đơn bà Dương Ngọc D thống nhất xác định: Tại biên bản hòa giải cơ sở ngày 08/9/2024 bà P và bà D đã chốt nợ hụi. Bà D còn nợ bà P số tiền hụi là 61.600.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các tình tiết nêu trên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong vụ án nên Hội đồng xét xử khẳng định bà Dương Ngọc D còn nợ bà Trần Thị Mỹ P số tiền hụi là 61.600.000 đồng.
[5]. Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 16, Điều 22, Điều 23 và Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ – CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Ngoài ra, kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[7]. Đối với yêu cầu của bị đơn Dương Ngọc D xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến khi hết trả số tiền 61.600.000 đồng nhưng nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P không chấp nhận nên không có cơ sở ghi nhận nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[8]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn bà Dương Ngọc D phải chịu 3.080.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 357, Điều 468, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P. Buộc bị đơn bà Dương Ngọc D có nghĩa vụ hoàn trả cho bà P số tiền nợ hụi là 61.600.000 đồng (sáu mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Ngọc D phải chịu 3.080.000 (ba triệu, không trăm tám mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị Mỹ P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị Mỹ P số tiền tạm ứng án phí là 1.540.000 đồng (một triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006807, ngày 02/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |
Bản án số 10/2025/DS - ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp đòi lại tài sản (nợ hụi)
- Số bản án: 10/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản (nợ hụi)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
