|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 05/3/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Như Cường
Bà Triệu Thị Hiến
Thư ký phiên toà: Ông Cao Văn Thuận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa:
Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Triệu Văn L
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 6 năm 1988 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn S và bà Luân Thị T; có vợ là Ma Thị B, có 02 con; Tiền án: Không, tiền sự: 01 (ngày 05/6/2023 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền – đến nay chưa nộp phạt), nhân thân: Ngày 08/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy – Ngày 18/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 19/8/2015 đã chấp hành xong khoản tiền án phí, phạt bổ sung và tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước; ngày 27/11/2020 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản, phạt tiền – chưa nộp phạt).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024 thì được trả tự do, hiện đang bị tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Ma Thị B – Sinh năm 1992. Có mặt
- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- + Anh Nông Hoàng C (tên gọi khác: Hoàng Gia C1) – Sinh năm 1986. Vắng mặt
- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- + Anh Nguyễn Văn H – Sinh năm 1989. Vắng mặt
- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/9/2024 tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Công an xã T, huyện B thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn phát hiện Triệu Văn L, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện B đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SOME màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với Triệu Văn L. Quá trình kiểm tra Triệu Văn L tự nguyện giao nộp từ trong lòng bàn tay phải cho tổ công tác 01 (một) gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng lẫn màu hồng nghi là chất ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói nhỏ mà Triệu Văn L giao nộp vào phong bì ký hiệu “L1”.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Triệu Văn L, xác định: Tổng khối lượng số chất màu trắng lẫn màu hồng có trong 01 gói nhỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “L1” là 0,042g (không phẩy không bốn hai gam).
Ngày 26/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Văn L, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 322/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng có trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại heroine và loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,042g.
Quá trình điều tra và truy tố, Triệu Văn L khai nhận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 25/09/2024, Triệu Văn L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SOEM, màu xanh, biển kiểm soát 97F5 - 0902 từ nhà xuống thành phố B với ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi xuống đến cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh B thì có một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu và hỏi “đi tìm đồ à” ý là tìm ma túy, L trả lời là “có”, người đàn ông liền hỏi L “lấy bao nhiêu”, L trả lời “chỉ có 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) thôi” nói xong người đàn ông đó đưa cho L 01 (một) gói nhỏ ma túy L cầm gói nhỏ ma túy trong lòng bàn tay phải đồng thời cũng đưa cho người đàn ông đó số tiền 150.000đ. Sau khi mua được ma túy Lạc một mình tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đi về nhà tại thôn B, xã T. Trên đường về đến khu vực thôn B, xã T thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Công an xã T yêu cầu dừng xe kiểm tra người và phương tiện. Quá trình kiểm tra, Triệu Văn L đã tự nguyện giao nộp 01 (một) gói nhỏ ma túy từ trong lòng bàn tay phải đưa cho Tổ công tác. Sau đó tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa L về trụ sở Công an huyện B để làm việc.
Vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án, gồm:
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T203 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,011g (không phẩy không một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định.
- - 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC”.
- - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, cũ đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.
- - 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0006303, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672, biển số đăng ký 97F5-0902 mang tên Hoàng Gia C1, cấp ngày 27/9/2006.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSBT ngày 08/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Triệu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Hoàng C trình bày: Năm 2006, anh C có sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1. Khoảng năm 2013, anh C1 đã bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989, trú tại: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với giá 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do anh C1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh H, nên anh C1 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô anh C1 đã bán.
Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H trình bày: Năm 2013, anh H có mua 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1 của anh Nông Hoàng C (tên gọi khác: Hoàng Gia C1) ở tổ C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với giá 3.000.000₫ (ba triệu đồng). Ngày 17/9/2024, anh H đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh Triệu Văn L, sinh năm 1988, trú tại: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn với giá 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng). Do anh H đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh L, nên anh H không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô anh H đã bán.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Triệu Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1 được anh L mua vào ngày 17/9/2024 với anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989, trú tại: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với giá 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng). Chiếc xe được mua trong thời kỳ hôn nhân và mua bằng tiền của anh L và chị B, việc bị cáo sử dụng xe để đi mua và tàng trữ ma tuý chị B không biết nên bị cáo xin Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô cho chị B để chị B làm phương tiện đi lại hàng ngày. Bị cáo xin Hội đồng xét xử (HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ma Thị B trình bày: Anh Triệu Văn L mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1 vào khoảng tháng 9/2024, mua với ai chị B không biết. Chiếc xe mô tô trên anh L mua trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền của hai vợ chồng nên xe mô tô là tài sản chung của hai vợ chồng. Chị B không biết anh L sử dụng chiếc xe trên đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Chị B đề nghị Tòa án trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị B. Ngoài ra, chị B không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Triệu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Triệu Văn L từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật HìnhĐiều 106 của Bộ luật Tốtụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T203 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,011g (không phẩy không một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt màu trắng, tiếp bên trong là một lớp nilon màu xanh, tiếp đến bên trong là 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “L1”.
- + Tịch thu hóa giá 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển số đăng ký 97F5-0902 cùng chìa khóa xe, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0006303, mang tên Hoàng Gia C1; trong đó, sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô; trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Ma Thị B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Hoàng C, anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ma Thị B, đại diện Viện kiểm sát không ai đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của anh C và anh H trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc anh C và anh H vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 40 phút ngày 25/9/2024, tại khu vực thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn Triệu Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói nhỏ ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,042g, mục đích để sử dụng cho bản thân; khối lượng bị cáo tàng trữ trái phép chưa đến 0,1g nhưng bị cáo có 01 (một) tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi vi phạm của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
[3]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát
Xét thấy Cáo trạng số 03/CT-VKSBT ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Triệu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, về xử lý vật chứng, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Xét đề nghị của bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với chiếc xe mô tô
- Xét đề nghị của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ma Thị B về việc trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển số đăng ký 97F5-0902, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0006303, mang tên Hoàng Gia C1 cùng chìa khóa xe cho chị Ma Thị B là không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận. Kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa đều thể hiện chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của chị B và bị cáo. Bị cáo L đã sử dụng chiếc xe mô tô trên đi mua và tàng trữ trái phép ma túy nên chiếc xe mô tô là phương tiện liên quan đến quá trình thực hiện hành vi phạm tội; do đó, cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước; tuy nhiên, do chiếc xe mô tô là tài sản chung của chị B và bị cáo, khi bị cáo đi mua và tàng trữ ma túy chị B không biết nên HĐXX chỉ sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị phần tài sản là chiếc xe mô tô, trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Ma Thị B.
- Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Hoàng C: Năm 2006, anh C có sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1. Khoảng năm 2013, anh C1 đã bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn H với giá 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do anh C1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh H, nên anh C1 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô anh C1 đã bán là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
- Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H: Năm 2013, anh H có mua 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1 của anh Nông Hoàng C với giá 3.000.000đ (ba triệu đồng). Ngày 17/9/2024, anh H đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh Triệu Văn L, sinh năm 1988, trú tại: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn với giá 2.100.000₫ (hai triệu một trăm nghìn đồng). Do anh H đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh L, nên anh H không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô anh H đã bán là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 08/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 27/11/2020 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản).
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T203 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,011g (không phẩy không một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt màu trắng, tiếp bên trong là một lớp nilon màu xanh, tiếp đến bên trong là 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “L1” là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672, đăng ký xe mang tên Hoàng Gia C1 là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe mô tô trên có giấy chứng nhận đăng ký xe tên Hoàng Gia C1, sinh năm 1986, trú tại: Tổ C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; tuy nhiên, năm 2013 anh C1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn H; ngày 17/4/2019 anh H bán chiếc xe mô tô lại cho bị cáo Triệu Văn L. Anh C1 và anh H đều xác nhận không còn sở hữu chiếc xe mô tô trên. Quá trình điều tra, đã xác minh và làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy tang vật.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều khai chiếc xe mô tô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672 là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo, việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội chị Ma Thị B không biết. Do đó, cần tịch thu hóa giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển kiểm soát 97F5-0902, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0006303, mang tên Hoàng Gia C1 cùng chìa khóa xe; trong đó, sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô; trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Ma Thị B (vợ của bị cáo L), trú tại: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
[7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo L vào ngày 25/9/2024 tại khu vực Bệnh viện Đa khoa tỉnh B; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này và cũng không quen biết, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên bố bị cáo Triệu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Triệu Văn L 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T203 bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,011g (không phẩy không một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy hai mặt màu trắng, tiếp bên trong là một lớp nilon màu xanh, tiếp đến bên trong là 01 (một) mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng cùng phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “L1”.
- - Tịch thu hóa giá 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu xanh, biển số đăng ký 97F5-0902, cũ, đã qua sử dụng, xe không có gương, chân gương bên trái bị nứt, vỡ, phần ốp nhựa dưới đầu yên xe bị mất, phần đèn hậu bị vỡ, có dính keo cùng chìa khóa xe và 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0006303, số máy: P52FMH005672, số khung: HOUM6XSO5672, biển số đăng ký 97F5-0902 mang tên Hoàng Gia C1, cấp ngày 27/9/2006; trong đó, sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô, trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô cho chị Ma Thị B (vợ của bị cáo L), trú tại: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2025 giữa Công an huyện B với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Văn L.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ma Thị B có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Hoàng C và anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Hương Thành |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Lạc phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Triệu Văn Lạc 13 (mười ba) tháng tù.
