Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHƯỚC LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 04 - 03 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Đường - Phó Hiệu trưởng trường THPT Phước Long

Ông Nguyễn Văn Ngần – Chủ tịch Hội nông dân phường Long Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 và Thông báo số 06/2025/TB-TA ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Thiện T

    , sinh ngày: 21/12/2006; tại tỉnh Bình Phước;

    Nơi cư trú: Thôn H, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Thân T1 và bà Lê Thị Kim T2; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 10/12/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

  2. Điểu Ty

    , sinh ngày: 15/3/2007; tại tỉnh Bình Phước;

    Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Châu Ro; Tôn giáo: Phật; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Điểu Q và bà Nguyễn Thị Kim T3; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 10/12/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

  3. Lê Sơn P

    , sinh ngày: 04/04/2008; tại tỉnh Bình Phước;

    Nơi cư trú: Thôn H, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Q1 và bà Vũ Thị L; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 10/12/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

  4. Điểu B

    (tên gọi khác: L1), sinh ngày: 21/05/2004; tại tỉnh Bình Phước;

    Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Châu Ro; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Điểu Q và bà Nguyễn Thị Kim T3; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 10/12/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Điểu T4:

Bà Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm: 1984; nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, nghề nghiệp: làm nông, là mẹ ruột.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Sơn P:

Bà Vũ Thị L, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông, là mẹ ruột.

- Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P: Ông Đặng Thái H– Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

- Người bị hại: Hà Minh T5, sinh ngày 04/11/2007

Nơi cư trú: thôn H, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Huỳnh Thị Tuyết T6, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn H, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, là mẹ ruột.

(Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị L, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã P, thị xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Có mặt.

Bà Lê Thị Kim T2, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn H, xã P, xã L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Có mặt.

- Người làm chứng:

Trần Hồng P1, sinh ngày 15/8/2006. Có mặt

Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Kim L2

Cùng nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, là mẹ ruột. Có mặt.

Giáp Lâm Minh T7, sinh ngày 02/12/2008. Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp: Bà Lâm Thị Đông X, sinh năm 1983

Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, là mẹ ruột. Vắng mặt.

Lê Quốc H1, sinh ngày 11/05/2009. Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Quốc T8, sinh năm 1972

Cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, là cha ruột. Vắng mặt.

Lục Ngọc T9, sinh ngày 19/8/2008. Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc T10, sinh năm 1980

Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, là cha ruột. Vắng mặt

Nguyễn Đắc H2, sinh ngày 01/01/2008

Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22h00 phút ngày 19/5/2024, Lục Ngọc T9 và Nguyễn Đắc H2 cùng nhau ngồi chơi tại bờ đập thủy điện T13 thuộc thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Tại đây có Bùi Thiện T đang ngồi nói chuyện cùng Nguyễn Thanh T11. Thấy vậy Lục Ngọc T9 và Nguyễn Đắc H2 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chạy lại chỗ Bùi Thiện T và Nguyễn Thanh T11 đang ngồi, nẹt bô xe nhiều lần để trêu ghẹo. Bùi Thiện T đã gọi điện thoại cho Điểu T4 đến để cùng đưa Nguyễn Thanh T11 về. Một lúc sau Điểu T4 cùng với Điểu B và Trần Hồng P1 đến cùng đưa Nguyễn Thanh T11 về nhà. Sau khi đưa T11 về nhà thì Thiện T, Điểu T4, Đ, Hồng P1 về lại thôn P, xã P. Khi đến đoạn đường đối diện với cửa hàng V1 “Hiểu Ý” thì gặp Giáp Lâm Minh T7 (T7 là bạn của Nguyễn Đắc H2) nên cả nhóm dừng lại. Bùi Thiện T yêu cầu Giáp Lâm Minh T7 kêu nhóm của Nguyễn Đắc H2 ra địa điểm nêu trên để nói chuyện. Lúc này Giáp Minh T7 gọi điện thoại cho Nguyễn Đắc H2 và Hà Minh T5 biết. Nguyễn Đắc H2 gọi điện thoại cho Lục Ngọc T9, Hà Minh T5 và Lê Quốc H1 rủ đi đánh nhau với nhóm của Bùi Thiện T và nói Lục Ngọc T9 mang theo một cây kiếm tự chế thì Lục Ngọc T9, Hà Minh T5 và Lê Quốc H1 đồng ý. Sau đó, Nguyễn Đắc H2, Lục Ngọc T9, Lê Quốc H1, Hà Minh T5 đến điểm hẹn với nhóm Bùi Thiện T. Đến gần điểm hẹn, Hà Minh T5 chở Lục Ngọc T9 dừng lại lề đường để T9 giấu cây kiếm tự chế dài khoảng 01 (một) mét vào bụi cỏ bên lề đường Y thuộc thôn P, xã P rồi cả nhóm tiếp tục đi đến điểm hẹn

Khi hai nhóm gặp nhau, Bùi Thiện T dùng tay tát Lục Ngọc T9 một cái vào mặt thì Hà Minh T5 vào can ngăn. Sau đó, hai nhóm không đánh nhau nữa mà lên xe mô tô cùng nhau đi về hướng ngã ba P. Trên đường đi, Lục Ngọc T9 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở Hà Minh T5 dừng lại lấy cây kiếm đã cất giấu trước đó rồi chạy vượt lên, áp sát xe mô tô, biển số không rõ do Trần Hồng P1 điều khiển đi một mình để Hà Minh T5 dùng kiếm chém hai nhát vào cẳng tay trái của Trần Hồng P1 khiến Trần Hồng P1 và xe mô tô bị ngã ra đường Y. Thấy Trần Hồng P1 bị chém thì Điểu T4 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở Điểu B cầm gậy đánh bóng chày đã chuẩn bị trước đó đuổi theo xe mô tô của Lục Ngọc T9 để Điểu B dùng gậy bóng chày đánh 02 (hai) cái vào đầu Hà Minh T5 khiến Hà Minh T5 và Lục Ngọc T9 cùng xe mô tô té ngã ra đường. Bùi Thiện T thấy Trần Hồng P1 bị chém thì điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen đỏ, B1 số: 93K1-193.16 quay lại chỗ Trần Hồng P1 còn Lê Sơn P điều khiển xe mô tô biển số: 93K1-021.89 quay lại để cùng Điểu B và Điểu T4 đánh Hà Minh T5 và Lục Ngọc T9. Lúc này, Lục Ngọc T9 lấy kiếm chém lại Điểu T4, Đ, Lê Sơn P. Thấy Hà Minh T5 và Lục Ngọc T9 bị đánh thì Nguyễn Đắc H2, Giáp Lâm Minh T7 và Lê Quốc H1 chạy lại định hỗ trợ nhưng sau đó Nguyễn Đắc H2, Giáp Lâm Minh T7 và Lê Quốc H1 sợ bị đánh nên đã bỏ chạy. Lục Ngọc T9 thấy nhóm mình bỏ chạy hết chỉ còn lại mình và Hà Minh T5 nên Lục Ngọc T9 đã bỏ kiếm xuống và bỏ chạy còn Hà Minh T5 thì xin Điểu T4, Đ, Lê Sơn P đừng đánh nữa thì Điểu T4, Đ, Lê Sơn P dừng lại không tiếp tục đánh nữa. Sau đó, hai nhóm bỏ về, riêng Hà Minh T5 khi về thấy thương tích ở đầu bị nặng gia đình đã đưa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu. Ngày 25/05/2024, chị Huỳnh Thị Tuyết T6 (mẹ ruột của Hà Minh T5) đến trình báo sự việc.

Tại cơ quan điều tra Bùi Thiện T, Đ, Điểu T4, Lê Sơn P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 (một) cây gậy bóng chày có chiều dài 81cm, có dạng hình trụ tròn một đầu đường kính lớn nhất là 05cm, đầu nhỏ là 04cm, đầu nhỏ quấn nhựa màu đen đường kính 2,5cm, trên thân gậy có dán mác chữ BAT màu đen.
  • + 01 (một) Cây kiếm tự chế dài 91cm, có vỏ gỗ bên ngoài, vỏ kiếm rộng 04cm, hai đầu và giữa được bọc kim loại, cán dài 26cm hình tròn đường kính 3,5cm, lưỡi kiếm bằng sắt màu trắng dài 62cm, mũi nhọn, rộng 03cm;
  • + 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki x-bike, màu đen đỏ, số máy: F4A2-116893; số khung: F45E0B0114136; Biển số: 93K1-021.89, tình trạng đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen đỏ, số máy: JF66E0831192; Số khung: 5817GY768616; Biển số: 93K1-193.16, tình trạng đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 279/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Minh T5 tại thời điểm giám định là 25% (Hai mươi lăm phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 318/KLTTCT-TTPY ngày 31/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tồn thương cơ thể của Trần Hồng P1 tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).

Ngày 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố các bị cáo để điều tra về hành vi nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 04/CTr – VKS ngày 24/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố các bị cáo Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P, Điểu B, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với các tình tiết thuộc điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi”; “Phạm tội lần đầu, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo” quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Thiện T, Điều T12, Lê Sơn P.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều 17, 50; 58; 65, 90, 91; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo Bùi Thiện T và Điểu B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm; xử phạt các bị cáo Điểu T4 và Điểu B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

Về vật chứng vụ án:

Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây gậy bóng chày, 01 (một) cây kiếm tự chế.

Trả lại cho bà Vũ Thị L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki x-bike, biển số: 93K1-021.89.

Trả lại cho bà Lê Thị Kim T2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số: 93K1-193.16.

Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P: Đồng ý với tội danh đại diện Viện kiểm sát truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: các bị cáo T, T4, P phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, các bị cáo chưa trưởng thành nên suy nghĩ nông cạn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, người bị hại cũng có một phần lỗi; do các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, 91 Bộ luật Hình sự xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, rất hối hận nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Do có mâu thuẫn nên vào ngày 19 tháng 5 năm 2024, nhóm của Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P, Đ, hẹn nhóm Nguyễn Đắc H2, Lục Ngọc T9, Lê Quốc H1, Hà Minh T5 tại đường Y thuộc khu phố P, xã P, thị xã P để nói chuyện. Tại đây, Lục Ngọc T9 điều khiển xe mô tô chở Hà Minh T5 dừng lại lấy cây kiếm đã cất giấu trước đó rồi chạy vượt lên chém hai nhát vào cẳng tay trái của Trần Hồng P1, do đó Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P, Điểu B đã dùng gậy bóng chày đánh vào đầu của Hà Minh T5 khiến T5 bị thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 25 %.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu kiềm chế bản thân đã gây thương tích cho bị hại, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 25%, đã dùng gậy bóng chày là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Hà Minh T5 (thuộc trưởng hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự) nên Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo và nguyên nhân xảy ra vụ án cũng có một phần lỗi của nhóm bị hại T5 (xuất phát từ việc nhóm của bị hại Hà Minh T5 tấn công trước, đã dùng dao chém Trần Hồng P1 là nhóm của các bị cáo) nên hành vi phạm tội của các bị cáo không thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng mức độ tham gia đồng phạm của các bị cáo là khác nhau, bị cáo T5 là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo T4, P1, B tham gia với vai trò giúp sức, trong đó bị cáo B có vai trò tích cực nhất, đã dùng gậy bóng chày gây thương tích trực tiếp cho bị hại. Do đó, bị cáo T5, B phải chịu mức hình phạt cao hơn hai bị cáo còn lại.

[4] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, Điểu T4, Điểu B là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các Bị cáo T5, T4, P1 thực hiện hành vi khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự để xem xét khi lượng hình, xử phạt mức án phù hợp nhằm giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội.[5] Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo và không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Việc các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo. Do đó, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng đủ sức răn đe đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) Cây gậy bóng chày, 01 (một) cây kiếm tự chế là vật chứng của vụ án, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki X-bike, biển số: 93K1-021.89, quá trình điều tra xác định xe do Đoàn Quang V đứng tên và ông V đã bán lại xe mô tô này cho chị Vũ Thị L (là mẹ ruột Lê Sơn P) nhưng chưa sang tên. Chị L không biết việc P tự ý lấy xe mô tô để sử dụng. Do đó Hội đồng xét xử trả lại tài sản trên cho chị Vũ Thị L.
  • - 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số: 93K1-193.16, quá trình điều tra xác định xe do bà Lê Thị Kim T2 (mẹ ruột của Bùi Thiện T) đứng tên. Chị Lê Thị Kim T2 không biết việc T tự ý lấy xe mô tô để sử dụng. Do đó Hội đồng xét xử trả lại tài sản trên cho bà Lê Thị Kim T2.
  • - 01 Xe mô tô, dạng Dream, không rõ biển số do Điểu B điều khiển để đến hiện trường thực hiện hành vi phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì Đ B điều khiển xe mô tô này tham gia giao thông bị lực lượng Công an giao thông tạm giữ phương tiện, không ở lại lập biên bản mà bỏ xe về nhà. Điểu B không nhớ biển số xe mô tô, không nhớ ngày bị lực lượng Công an giao thông tạm giữ, Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng. Bị hại, người đại diện không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đại diện hợp pháp các bị cáo không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền trên, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét. [8] Đối với hành vi sử dụng kiếm tự chế chém vào cẳng tay trái của Trần Hồng P1 của Hà Minh T5 gây thương tích cho Trần Hồng P1 là 01% (một phần trăm), Hà Minh T5 là người trực tiếp thực hiện; Lục Ngọc T9, Nguyễn Đắc H2, Lê Quốc H1, Giáp Minh T7 có vai trò đồng phạm giúp sức. Tuy nhiên, Trần Hồng P1 đã có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc này. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với: Hà Minh T5, Lục Ngọc T9, Nguyễn Đắc H2, Lê Quốc H1, Giáp Minh T7 theo điểm a khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với hành vi trên là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.Đối với Trần Hồng P1, xét thấy P1 không tham gia cùng các bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho Hà Minh T5 nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với Trần Hồng P1 với vai trò đồng phạm.[9] Đối với quan điểm của Kiểm sát viên, Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên được ghi nhận.[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Thiện T, Điểu T4, Lê Sơn P, Đ (L1) phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  2. Về hình phạt:

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều 17, 50; 58; 65, 90; 91; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

    • - Xử phạt bị cáo Bùi Thiện T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/3/2025).
    • Giao bị cáo T về Ủy ban nhân dân xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • - Xử phạt bị cáo Điểu T4 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/3/2025).
    • Giao bị cáo T4 về Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Sơn P 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/3/2025).
    • Giao bị cáo P về Ủy ban nhân dân xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều 17, 50; 58; 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

    • - Xử phạt bị cáo Điểu B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/3/2025).
    • Giao bị cáo B về Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây gậy bóng chày có chiều dài 81cm trên thân gậy có dán mác chữ BAT màu đen; 01 (một) cây kiếm tự chế dài 91cm, có vỏ gỗ bên ngoài.
    • - Trả lại cho bà Lê Thị Kim T2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số: 93K1-193.16 màu đen đỏ, số máy: JF66E0831192, số khung: 5817GY76861601 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lê Thị Kim T2 số 013856.
    • - Trả lại cho bà Vũ Thị L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki x-bike, màu đen đỏ, số máy: số máy: F4A2-116893, số khung: F45E0B0114136, biển số: 93K1-021.89 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe tên Đoàn Quang Vận số 003858.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0003872 ngày 27/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long).
  4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Các Bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo T4, P, người bào chữa cho các bị cáo T, T4, P có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/03/2025), người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Phước Long;
  • - PV06, PC 10 - CA tỉnh Bình Phước;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TX. Phước Long;
  • - Công an xã Phước Tín;
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long;
  • - TT lý lịch Tư pháp – Sở tư pháp Tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị cáo; người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VT Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Bân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thiện Thành cùng đông phạm, phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger