Hệ thống pháp luật

T.OÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THỦY

TỈNH HOÀ BÌNH

Bản án số:09/2025/HSST

Ngày: 04/3/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mộng Hùng và bà Bùi Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST - HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2025/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn H, sinh ngày 01/01/1971, tại huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú:

Xóm R, xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H1 và bà Bùi Thị T(đã chết); bị cáo có vợ là Quách Thị V năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2003;

Tiền án:

  • + Ngày 29/9/2015 tại bản án số 25/2015/HS-ST Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194. Ngày 21/12/2020 Bùi Văn H2 hành xong án phạt tù, đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền thu lời bất chính;
  • + Ngày 18/02/2022, tại bản án số 05/2022/HS-ST Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Đến ngày 22/7/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích;

Tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/8/2024, chuyển tạm giam ngày 21/8/2024. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Đ H2sinh năm 1966 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T1 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn H3 năm 1971 trú tại xóm R, xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 11/8/2024 Bùi Văn H4 nhờ xe mô tô của một người ở trong xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đi ra xóm X, xã P, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (Bản thân H5 quen biết và không nhớ đặc điểm của người này). Sau đó H6 đi bộ một mình từ khu vực xóm X đến khu vực xóm T, xã P, huyện Y mua ma túy. Khi đi đến khu vực trước cổng nghĩa trang L xóm T, xã P thấy có một người nam thanh niên khoảng 30 tuổi có dáng người gầy, đội mũ lưỡi chai màu đen nên H6 đi đến lại gần hỏi mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng, thì người nam thanh niên này đồng ý rồi đưa cho H01 gói nilon trong suốt bên trong có chứa ma túy, H7 ma túy trên tay trái rồi đi vào khu vực nghĩa trang L1 tìm nơi sử dụng ma túy, còn người nam thanh niên này đi đâu đó H không biết. Sau đó H bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ ở trong bàn tay trái của H01 gói nilon trong suốt, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá H8 mua và khai mục đích để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 408/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng KCông an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ của Bùi Văn H3 năm 1971 trú tại xóm R, xã H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình ngày 11/8/2024” gửi giám định có khối lượng 0,51 gam (không phẩy năm mươi mốt gam) là ma túy, loại Methamphetamine....

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSYT ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy truy tố Bùi Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Bùi Văn H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo V1 xử lý vật chứng: và án phí, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo; đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ điểm v Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung, nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Hành vi của bị cáo qua hồ sơ và tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện; Bùi Văn H là đối tượng nghiện ma túy nên chiều tối ngày 11/8/2024 đã đi tới khu vực trước cổng nghĩa trang L1 thuộc xóm T, xã P, huyện Y mua ma túy phục vụ cho nhu cầu bản thân. Tại đây bị cáo đã mua ma túy của một người thanh niên không quen biết với số tiền 200.000 đồng, được 01 gói nilon trong suốt có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi vào bên trong khu vực nghĩa trang để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ 0,51 gam ma túy loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo nêu trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng cùng toàn bộ chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định Bùi Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình nghị án Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực kinh tế khó khăn, trong quá trình lao động tại địa phương đã tham gia phong trào thể thao môn bắn Nỏ được tặng huy chương vàng do UBND tỉnh H tặng. Đây là cơ sở để Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận

  1. Về hình phạt: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiện hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác. Nhưng để phục vụ lối sống buông thả của bản thân bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội.

Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị cáo đã có 02 tiền án về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy truy tố bị cáo theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 là đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng quy định tại Điều 54 đối với bị cáo, cần chấp nhận đề nghị và đối đáp của Viện kiểm sát về vấn đề này là phù hợp. Cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

  1. Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng của vụ án khối lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói, được niêm phong trong phong bì. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu xuất hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Về các vấn đề khác: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo H9 bị cáo khai đã cho bị cáo ma túy để sử dụng vào ngày 08/8/2024, do bị can không biết rõ nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiếp tục xác minh làm rõ khi có kết quả sẽ xử lý sau
  3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh, hình phạt:

    Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12/8/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

    Tịch thu tiêu hủy 0,30g mẫu ma túy, loại Methamphetamine “Mẫu vật còn lại sau khi giám định, có dấu niêm phong của Phòng KCông an tỉnh H và chữ ký của các thành phần có tên trên.

    (Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thủy, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số A ngày 07/01/2025 giữa bên giao Công an huyện Y, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Hòa Bình).

  3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh HB;
  • - STP tỉnh HB;
  • - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT;
  • - VKSND huyện YT;
  • - Cơ quan ĐT;
  • - Chi cục THA dân sự;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Lê Thị Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn H Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger