Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

“V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Chí Thân và bà Vũ Thị Thanh
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Trần Thị K, sinh năm 1988. Nơi thường trú: thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện tại: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: anh Đặng Văn G, sinh năm 1989. Nơi thường trú: thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Trần Thị K trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 12 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, thời gian chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xô xát, cãi vã. Cả hai đã cố gắng hàn gắn và hai bên gia đình cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại, chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G đã sống ly thân, chị Trần Thị K cùng với 02 con chung đã về nhà mẹ đẻ của chị K ở, tại: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến nay chị Trần Thị Kim T tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị Trần Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Trần Thị K được ly hôn với anh Đặng Văn G.
  • Về con chung: Chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G có 02 con chung là Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015. Khi ly hôn chị K đề nghị được giao cả 02 con chung cho chị K chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, chị K không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn - anh Đặng Văn G trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn G và chị Trần Thị Kim đăng K1 kết hôn ngày 05 tháng 12 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2020. Đến nay chị Trần Thị yêu C giải quyết ly hôn, anh Đặng Văn G đồng ý.
  • Về con chung: Anh Đặng Văn G và chị Trần Thị K có 02 con chung là Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015. Khi ly hôn anh Đặng Văn G đồng ý giao quyền nuôi con cho chị Trần Thị Kim N1 dậy cả 02 con chung, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh Đặng Văn G và chị Trần Thị K không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình xác minh tại thôn H, xã L, thị xã Q, chính quyền địa phương cho biết: Chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G kết hôn ngày 05 tháng 12 năm 2012 có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Cả hai không yêu cầu thôn giải quyết mâu thuẫn, thôn được biết vợ chồng xảy ra bất đồng trong cuộc sống và hiện nay không còn chung sống cùng nhau. Nay, chị K yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Cả hai có 02 con chung là Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015. Nếu cả hai ly hôn đề nghị Tòa án xem xét điều kiện của các bên để giao nuôi con cho phù hợp; về tài sản: thôn không nắm được.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim . Xử: chị Trần Thị K được ly hôn anh Đặng Văn G; về con chung: giao cho chị Trần Thị Kim trực T1 trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 (Hai) con chung là: Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015, đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Đặng Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Kim khởi K2 về việc ly hôn với anh Đặng Văn G và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Đặng Văn G có nơi thường trú tại thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị K và bị đơn anh Đặng Văn G vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt). Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G có đăng ký kết hôn từ năm 2012 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau, chị Trần Thị K cùng với 02 con chung đã về nhà mẹ đẻ của chị K ở, tại: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử ghi nhận về quan điểm ly hôn giữa chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Kim đối V anh Đặng Văn G là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
    2. Về con chung: Chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G có 02 (Hai) con chung là: Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015. Chị Trần Thị K có quan điểm trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh Đặng Văn G phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, con chung đang còn nhỏ và đang ở với chị Trần Thị K; anh Đặng Văn G có quan điểm đồng ý để chị K trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung của chị Trần Thị K và anh Đặng Văn G, giao 02 (Hai) con chung là: Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015 cho chị Trần Thị Kim trực T1 trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Đặng Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết anh Đặng Văn G có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
    3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Chị Trần Thị Kim P chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Kim .

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị K được ly hôn anh Đặng Văn G.
  2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Kim trực T1 trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 (Hai) con chung là: Đặng Thị Yến N, sinh ngày 20/01/2014 và Đặng Trần Gia B, sinh ngày 13/12/2015 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Đặng Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau ly hôn, anh Đặng Văn G không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  3. Về án phí: Chị Trần Thị Kim P chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị K đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002752, ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, chị Trần Thị K đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND thị xã Quảng Yên.
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Yên.
  • - UBND xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh (Nơi ĐKKH)
  • - Đương sự.
  • - Lưu án văn + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Kim được ly hôn anh Đặng Văn Giáng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger