Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Phan Huy Hoàng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Dương Phước An - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, số E đường Đ, phường T, thị xã H, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/10/1967 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: A H, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Đinh Thị G (đều đã chết); có vợ là Ngô Thị Cẩm T và 02 con (lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1994); Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 01/6/2005 bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH (PC14) Công an tỉnh T xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc".

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Lê Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/11/1964 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Lê M (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Trần Thị H và 05 con (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 04/4/1992, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (BA số 15/HSST);
  • - Ngày 06/4/2021, bị Công an huyện Q xử phạt hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi mua Lô đề.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1995; cư trú tại: A H, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); có mặt.

2. Anh Lê Trần H1, sinh năm 1997; cư trú tại: Tổ dân phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 10 phút ngày 12/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Công an phường H kiểm tra tại nhà Lê Văn D thuộc Tổ dân phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện D đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề với Nguyễn Văn V.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn V qua nói chuyện thì biết D ghi lô đề nên V mời D vào nhóm Z để nhận tịch đề của D. V thành lập nhóm Z “Cậu D 70” gồm 04 thành viên (trong đó V là trưởng nhóm với tên tài khoản là Lộc P1 và lấy thêm 1 tài khoản khác là Dung P2, 02 tài khoản còn lại là của D với tên là Lê Văn D và Dũng Lê V1). Sau đó D chuyển tịch đề ghi được vào nhóm này để cung cấp dữ liệu cho V đánh bạc được thua bằng tiền và hưởng hoa hồng.

Cách thức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề và tỷ lệ thắng thua như sau:

Các đối tượng thắng thua với nhau dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các công ty xổ số kiến thiết do Nhà nước quản lý mở thưởng hàng ngày. Các đối tượng quy ước đài miền N (xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành có thời gian quay số mở thưởng từ 16 giờ 15 phút đến 16 giờ 30 phút hàng ngày), Miền T1 (xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành có thời gian quay số mở thưởng từ 17 giờ 15 phút đến 17 giờ 30 phút hàng ngày), Miền B (xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành có thời gian quay số mở thưởng từ 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày).

Cách thức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề và tỷ lệ thắng thua như sau:

Nếu người chơi số đề ghi 10.000 đồng thì D sẽ ghi vào tịch đề là 13.500 đồng (tương đương 1.35, tức là người chơi số đề được hưởng thêm khoản hoa hồng khuyến mãi là 35% trên số tiền thực đánh). Mỗi tịch đề gồm các cặp số 00 đến 99 hoặc 000 đến 999 là số đánh đề và tiền đánh đề theo từng đài khác nhau. Trong hình thức đánh đề có nhiều cách đánh khác nhau như bao lô, 17 lô, 6 lô, đặc biệt, đầu, đuôi, xuyên 2, xuyên 3...... dựa theo kết quả xổ số các đài M, M, Miền B. Kết quả thắng thua, lấy con số mà người chơi đánh đề để đối chiếu với tất cả các giải, hoặc ba số cuối (trừ giải tám) của kết quả xổ số trong ngày; nếu số mà người chơi đánh trùng với các số trong các giải dựa theo kết quả xổ số các đài thì người đánh trúng thưởng và thắng tiền theo tỷ lệ quy ước so với số tiền trên tịch đề và ngược lại nếu không trúng thì người chơi sẽ thua.

Đối với các đài miền N, miền T thì tỷ lệ thắng như sau: Đánh 02 số lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 70 chia cho 18 lô, nếu đánh 03 số (ba chân) lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 600 chia cho 17 lô, giải thượng 06 lô tỷ lệ 1 ăn 100, giải đặc biệt tỷ lệ 1 ăn 600, giải đầu, đuôi tỷ lệ 1 ăn 70, cả đầu đuôi tỷ lệ 1 ăn 35.

Đối với các đài miền B thì tỷ lệ thắng như sau: Đánh 02 số lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 70 chia cho 27 lô, nếu đánh 03 số (ba chân) lấy tổng số tiền trên tịch nhân với 600 chia cho 23 lô, giải thượng 10 lô tỷ lệ 1 ăn 60, giải đặc biệt tỷ lệ 1 ăn 600, xuyên 2 tỷ lệ 1 ăn 10, xuyên 3 tỷ lệ 1 ăn 40, giải đầu, đuôi tỷ lệ 1 ăn 70, cả đầu đuôi tỷ lệ 1 ăn 35, giải 10 lô tỷ lệ 1 thắng 60.

Về hoa hồng các đối tượng thỏa thuận như sau: D sẽ đưa cho V số tiền bằng số tiền ghi trên tịch đề nhân với 70%.

Căn cứ kết quả trích sao dữ liệu và bảng thống kê chi tiết các lần đánh, tiền đánh, đài đánh, tiền trúng đề giữa Nguyễn Văn V và Lê Văn D đã xác nhận, cụ thể:

Vào ngày 11/6/2024, D đã chuyển các tịch đề cho V như sau:

Đối với đài miền N: ghi 04 con số, với tổng số tiền đánh là 495.000 đồng (tiền thực đánh là 470.000 đồng), số tiền trúng đề là 1.500.000 đồng, tổng cộng số tiền đánh bạc là 1.995.000 đồng.

Đối với đài miền T (đài Quảng Nam, ĐăkLăk): ghi 40 con số, với tổng số tiền đánh là 3.017.000 đồng (tiền thực đánh là 2.519.000 đồng), số tiền trúng đề là 4.230.000 đồng, tổng cộng số tiền đánh bạc là 7.247.000 đồng.

Đối với đài miền B: ghi 29 con số, với tổng số tiền đánh là 3.075.000 đồng (tiền thực đánh là 2.800.000 đồng), số tiền trúng đề là 3.710.000 đồng, tổng cộng số tiền đánh bạc là 6.785.000 đồng.

Vào ngày 12/6/2024, D đã chuyển các tịch đề cho V như sau:

Đối với đài miền N (Cần Thơ, Đồng Nai, Sóc Trăng): ghi 04 con số, với tổng số tiền đánh là 522.000 đồng (tiền thực đánh là 470.000 đồng), số tiền trúng đề là 0 đồng, tổng cộng số tiền đánh bạc là 522.000 đồng.

Đối với đài miền T (đài Đà Nẵng, Khánh Hòa): ghi 40 con số, với tổng số tiền đánh là 3.266.000 đồng (tiền thực đánh là 2.780.000 đồng), số tiền trúng đề là 500.000 đồng, tổng cộng số tiền đánh bạc là 3.766.000 đồng.

Đối với đài miền B: ghi 26 con số, với tổng số tiền đánh là 3.525.000 đồng, số tiền trúng đề là 875.000 đồng (tiền thực đánh là 3.350.000 đồng), tổng cộng số tiền đánh bạc là 4.400.000 đồng.

Như vậy, từ ngày 11/6/2024 đến ngày 12/6/2024, Lê Văn D đã có hành vi đánh bạc cùng với Nguyễn Văn V tổng cộng 06 lượt đánh, tổng số tiền đánh và trúng là 23.930.000 đồng. Trong đó, số lượt đánh bạc có tang số từ 5.000.000 đồng trở lên là 02 lượt, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.032.000 đồng. Do đó, V và D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 14.032.000 đồng.

Thông qua hành vi đánh bạc từ ngày 11/6/2024 đến ngày 12/6/2024, D nhận tiền hoa hồng từ V số tiền 497.000 đồng. (Do vào lúc 18 giờ 10 phút ngày 12/6/2024, chưa có kết quả xổ số đài miền B để tính được thua bằng tiền).

Quá trình khôi phục dữ liệu điện tử trên điện thoại của D và V, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ:

Vào ngày 07/12/2023, D đã chuyển các tịch đề cho V như sau:

Đối với đài miền B: ghi 46 con số, với tổng số tiền đánh 5.748.000 đồng (tiền thực đánh là 5.311.000 đồng), số tiền trúng đề là 2.677.500 đồng, tổng cộng số tiền đánh bạc là 8.425.500 đồng.

Vào ngày 08/12/2023, D đã chuyển các tịch đề cho V như sau:

Đối với đài miền T: ghi 42 con số, với tổng số tiền đánh là 7.981.000 đồng, số tiền trúng đề là 3.360.000 đồng (tiền thực đánh là 7.232.000 đồng), tổng cộng số tiền đánh bạc là 11.341.000 đồng.

Đối với đài miền B: ghi 46 con số, với tổng số tiền đánh 5.069.000 đồng, số tiền trúng đề là 1.225.000 đồng (tiền thực đánh là 4.645.000 đồng) tổng cộng số tiền đánh bạc là 6.294.000 đồng.

Như vậy, từ ngày 07/12/2023 đến ngày 08/12/2023, Lê Văn D đã có hành vi đánh bạc cùng Nguyễn Văn V tổng cộng 03 (ba) lượt đánh, tổng số tiền đánh và trúng là 26.061.000 đồng. Trong đó, số lượt đánh bạc có tang số từ 5.000.000 đồng trở lên là 03 lượt, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 26.061.000 đồng. Do đó D và V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 26.061.000 đồng.

Thông qua hành vi đánh bạc từ ngày 07/12/2023 đến ngày 08/12/2023, D nhận tiền hoa hồng từ V số tiền 945.340 đồng.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 07/12/2023 đến ngày 08/12/2023 và từ ngày 11/6/2024 đến ngày 12/6/2024, Lê Văn D có hành vi đánh bạc cùng Nguyễn Văn V tổng cộng 09 lượt đánh, tổng số tiền đánh và tiền trúng là 49.991.000 đồng. Trong đó, số lượt đánh bạc có tang số từ 5.000.000 đồng trở lên là 05 (năm) lượt, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 40.093.000 đồng. Do đó, Lê Văn D và Nguyễn Văn V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 40.093.000 đồng.

Thông qua hành vi đánh bạc, D nhận tiền hoa hồng từ V số tiền 1.442.340 đồng. V thu lợi bất chính số tiền 7.290.500 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn V và Lê Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngày 27/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H ra Quyết định trưng cầu giám định số 547/QĐ-ĐCSHS trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T khôi phục và trích xuất dữ liệu tin nhắn trên ứng dụng Zalo trong nhóm Zalo “Cậu dũng 70" và tin nhắn Z có tên “Dung Le V2", "Le Van D1” và “Lộc Phát".

Tại Bản kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

“1. Đối với mẫu A1:

  • - Tìm thấy trích xuất 10 (mười) lượt tin nhắn zalo với tài khoản nhóm có tên “Cậu dũng 70” trên mẫu vật giám định theo yêu cầu. Chi tiết thể hiện ở phụ lục Dữ liệu nội dung tin nhắn Zalo (Lê Văn Dũng Realme C) kèm theo.
  • - Tìm thấy, trích xuất 02 (hai) lượt tin nhắn zalo với tài khoản có tên “Lộc Phát” trên mẫu vật giám định theo yêu cầu. Chi tiết thể hiện ở phụ lục Dữ liệu nội dung tin nhắn Zalo (Lê Văn Dũng Realme C) kèm theo.
  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn zalo với tài khoản có tên “Dung Le V2", "Lê Văn D” trên mẫu vật giám định theo yêu cầu.

2. Đối với mẫu A2:

  • - Tìm thấy, trích xuất 10 (mười) lượt tin nhắn zalo với tài khoản nhóm có tên zalo với tài khoản nhóm có tên “Cậu dũng 70 (Inner ID 429567491)” trên mẫu vật nhóm có tên “Cậu dũng 70 (Inner ID 420976816)” và 16(mười sáu) lượt tin nhắn “Cậu dũng 70 (I)"; 04(bốn) lượt tin nhắn zalo với tài khoản giám định theo yêu cầu. Chi tiết thể hiện ở phụ lục Dữ liệu nội dung tin nhắn Zalo (L) kèm theo.
  • - Tìm thấy, trích xuất 22 (hai mươi hai) lượt tin nhắn zalo với tài khoản có tên “Lộc Phát” trên mẫu vật giám định theo yêu cầu. Chi tiết thể hiện ở phụ lục Dữ liệu nội dung tin nhắn Zalo (L) kèm theo.
  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn zalo với tài khoản có tên “Dung Le V2", "Lê Văn D” trên mẫu vật giám định theo yêu cầu.

3. Đối với mẫu A3: Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn zalo với nhóm có tên “Cậu dũng 70” và các tài khoản có tên “Dung Le V2", "Lê Văn D”, “Lộc Phát” trên mẫu vật giám định theo yêu cầu.

* Về vật chứng và xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ (thu từ Nguyễn Văn V).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme C51 màu đen và 01 điện thoại di động OPPO A17 màu đồng (thu từ Lê Văn D).

Các vật chứng nêu trên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn V đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 7.290.500 đồng, bị cáo Lê văn D đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ huê hồng 1.442.340 đồng.

* Về các vấn đề khác:

Nguyễn Tấn P là con ruột của Nguyễn Văn V có cho V mượn tài khoản thuộc ngân hàng V3, số tài khoản 0161001733440; Lê Trần H1 là con ruột của Lê Văn D cho D mượn tài khoản thuộc ngân hàng B1, số tài khoản 55110001100060 để chuyển tiền ghi lô đề. Tuy nhiên P và H1 không biết V và D mượn tài khoản để giao dịch với ai, không rõ nội dung giao dịch và không biết V và D dùng tài khoản này để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của V và D có dấu hiệu tội tổ chức đánh bạc. Tuy nhiên, đối với V và D tổ chức dưới 10 người đánh bạc, ghi đề nhưng đều không xác định được lai lịch cụ thể của người chơi đề, không có lần đánh số đề, trúng số đề nào từ 20.000.000 đồng trở lên, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”.

V và D có 04 lần đánh bạc với tang số đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, V và D chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi của V và D ở những lần đánh bạc này không cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính đối với V và D là có căn cứ.

Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKSHTr ngày 08/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Văn D về tội "Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo.

Để xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn V từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • - Bị cáo Lê Văn D từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ của Nguyễn Văn V; 01 điện thoại di động hiệu Realme C51 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17k màu vàng của Lê Văn D.
  • - Truy thu sung ngân sách Nhà nước: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp lại số tiền 7.290.500 đồng thu lợi bất chính; buộc bị cáo Lê Văn D phải nộp lại số tiền1.442.340 đồng thu lợi huê hồng (các bị cáo đã nộp đủ tại giai đoạn xét xử sơ thẩm).

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với vụ án đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận::

Trong khoảng thời gian từ các ngày 07/12/2023 – 08/12/2023 và ngày 11/6/2024 – 12/6/2024, tại địa bàn thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), Nguyễn Văn V và Lê Văn D đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi số đề, được thua bằng tiền với tổng cộng 09 lượt đánh, tổng số tiền đánh và tiền trúng là 49.991.000 đồng. Trong đó, số lượt đánh bạc có tang số từ 5.000.000 đồng trở lên là 05 lượt với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 40.093.000 đồng. Do đó, Nguyễn Văn V và Lê Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số là 40.093.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 05/CT-VKSHTh ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn bất chấp, dẫn đến việc phạm tội. Hành vi này không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, mà hành vi này còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác; nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có đồng phạm theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự, tuy nhiên có tính chất giản đơn, không có sự chuẩn bị từ trước, nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

Xét vai trò, mức độ tham gia của từng bị cáo trong vụ án này thì thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn V là chủ đề, trực tiếp nhận tịch đề thắng thua từ Lê Văn D nên phải chịu trách nhiệm chính.

Bị cáo Lê Văn D là người trực tiếp ghi số đề và nhận tiền từ người chơi số đề rồi chuyển lại cho V để hưởng tiền hoa hồng nên đồng phạm với T2 trong vụ án với vai trò người thực hành tích cực.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:

  • - Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự gì.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V và bị cáo D đều có 05 lần đánh bạc trái phép với tổng số tiền từ trên 5.000.000 đồng nên đã phạm vào tình tình tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh phạm tội xuất phát từ mối quan hệ thân quen gia đình với nhau; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải áp dụng hình phạt tù mà cần áp dụng hình phạt chính là “Phạt tiền” đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền, tương xứng với hành vi phạm tội, và đa phần các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ của Nguyễn Văn V; 01 điện thoại di động hiệu Realme C51 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17k màu vàng của Lê Văn D; Đây là các công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước.
  • - Truy thu sung ngân sách Nhà nước: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp lại số tiền 7.290.500 đồng thu lợi bất chính; buộc bị cáo Lê Văn D phải nộp lại số tiền 1.442.340 đồng thu lợi bất chính từ huê hồng. Các bị cáo đã nộp đủ.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Văn D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn V và Lê Văn D phạm tội Đánh bạc.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự;

    • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V số tiền 25.000.000 đồng.
    • - Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D số tiền 20.000.000 đồng.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Truy thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 7.290.500 đồng của bị cáo Nguyễn Văn V; số tiền 1.442.340 đồng của bị cáo Lê Văn D. Bị cáo V đã nộp đủ (theo biên lai thu tiền số 0000905 ngày 22/02/2025), bị cáo D đã nộp đủ (theo biên lai thu tiền số 0000906 ngày 17/02/2025) tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, thành phố H.
    • - Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C51 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k màu vàng.

    (Các vật chứng nêu trên đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà)

  4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  5. Buộc các bị cáo: Nguyễn Văn V và Lê Văn D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP- Huế;
  • - VKSND TP- Huế;
  • - Sở Tư pháp TP- Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - CQĐT CA thị xã Hương Trà;
  • - CQTHAHS CA Thị xã Hương Trà;
  • - Chi cục THADS Thị xã Hương Trà;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger