Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 27-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đắc Tuyền

Bà Trịnh Thị Anh

Thư ký phiên toà: Bà Đồng Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Đình Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn C và bà Phạm Thị D; có vợ là Nguyễn Khánh L (đã ly hôn), có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-7-2024; có mặt.

- Bị hại: Anh Bùi Đức V, sinh năm 1998; nơi thường trú: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người làm chứng:

  • + Anh Hoàng Đình C1; vắng mặt (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);
  • + Anh Đoàn Duy T; có mặt;
  • + Anh Đàm Bảo T1; vắng mặt;
  • + Anh Hoàng Công T2; vắng mặt;
  • + Anh Bùi Đức V1; vắng mặt;
  • + Anh Nguyễn Anh T3; vắng mặt;
  • + Anh Bùi Đức T4; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22-02-2024, Phạm Đình Q cùng Đoàn Duy T, Đàm Bảo T1 và một số bạn đang đang ăn uống ở quán B tại đường P thuộc tổ dân phố T, phường T, quận D thì Nguyễn Anh T3 là bạn của T1 đang ăn uống ở bàn bên cạnh sang mời rượu. Khi Nguyễn Anh T3 về bàn thì T sang mời rượu lại. Lúc này bàn của Nguyễn Anh T3 có Bùi Đức V, Bùi Đức V1, Hoàng Đình C1, Bùi Đức T4. Trong khi mời rượu giữa T và V1, V, C1 xảy ra mâu thuẫn, V vo viên tờ giấy ăn ném về phía T, cả nhóm đứng dậy xô sát với T. Thấy T bị đánh, Q liền đứng dậy cầm theo cốc thủy tinh dùng để uống bia ở tay phải đi đến can ngăn, hai bên lời qua tiếng lại nên Q đã cầm cốc thủy tinh mang theo đập một cái vào vùng đầu bên trái của V, đập một cái vào đầu C1. Ngay lúc này lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ gần quá bia đã ngăn chặn sự việc, khống chế các đối tượng. Bùi Đức V, Hoàng Đình C1 bị thương tích được đưa đến bệnh viện điều trị

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 275/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 08-4-2024 của Trung tâm P, kết luận: Nạn nhân Bùi Đức V bị chấn động não nhưng không có tổn thương thực thể ở sọ não; vết thương đầu cung mày phải để lại thẹo nhỏ; vết thương cổ trái để lại thẹo nhỏ. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương đầu cung mày phải gây nên là 03%; tỷ lệ phần trăm tổn thương do sẹo cổ trái gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương do sẹo vành tai trái gây nên là 01%; tỷ lệ phần trăm tổn thương có thể do sẹo vết thương vùng ngoài đuôi mắt thái dương trái gây nên là 03%.tỷ lệ phần trăm tổn thương có thể do sẹo vết xây xước da vùng thái dương trái gây nên là 01%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng, có thể sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 274/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 08-4-2024 của Trung tâm P, kết luận: Nạn nhân Hoàng Đình C1 bị chấn động não nhưng không có tổn thương thực thể ở sọ não; vết thương rách da đầu vùng thái dương trái để lại sẹo trung bình. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân tại thời điểm giám định là 04% (Bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương da đầu gây nên là 02%.Thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng, có thể sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Đình Q khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên, phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và kết luận giám định pháp y.

Vật chứng của vụ án: 02 cốc thủy tinh và 03 bát ăn đã bị vỡ, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh quản lý.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Bùi Đức V, anh Hoàng Đình C1 mỗi người 25.000.000 đồng, anh V và anh C1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong vụ án này, ngoài hành vi gây thương tích cho anh V, Phạm Đình Q còn có hành vi dùng cốc thủy tinh gây thương tích cho anh Hoàng Đình C1 gây tổn hại 04% sức khỏe. Tuy nhiên anh C1 không yêu cầu khởi tố và có đơn đề nghị Miễn trách nhiệm hình sự đối với Q nên không có căn cứ xử lý hình sự. Cơ quan Công an đã xử phạt hành chính đối với Q về hành vi trên.

Đối với những đối tượng có hành vi dùng tay chân đánh nhau, không gây thương tích. Cơ quan Công an đã xử phạt hành chính.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSDK ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố bị cáo Phạm Đình Q về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình Q với mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Cố ý gây thương tích", ấn định thời gian

thử thách từ 48 đến 60 tháng đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong nên không đề nghị giải quyết. Về vật chứng : Đề nghị tịch thu tiêu hủy mảnh vỡ 02 cốc thủy tinh và 03 bát ăn. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày nhận thấy hành vi của mình là sai, vợ chồng bị cáo đã ly hôn, một mình bị cáo nuôi ba con nhỏ và mẹ già, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại quán B thuộc tổ dân phố T, phường T, quận D, giữa nhóm bạn của bị cáo và nhóm bạn của anh V đã xảy ra mâu thuẫn, bị cáo can ngăn nhưng không được, trong lúc hỗn loạn đã dùng cốc thủy tinh đập vào đầu anh V gây thương tích, tổn thương cơ thể là 11%. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” vi phạm Điều 134 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung: Bị cáo đã dùng cốc thủy tinh là hung khí, gây thương tích cho bị hại, làm tổn thương 11% sức khỏe của bị hại nên bị cáo phải chịu tình tiết "Dùng hung khí nguy hiểm...” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo

được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội. Song khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần xem xét tới nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

[7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, tạo cơ hội cho bị cáo rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy mảnh vỡ 02 cốc thủy tinh và 03 bát ăn được thu giữ trong quá trình điều tra vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Xử phạt bị cáo Phạm Đình Q 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Mảnh vỡ 02 cốc thủy tinh và 03 bát ăn (theo Biên bản giao vật chứng ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa Công an quận D và Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Dương Kinh;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra CA quận Dương Kinh;
  • - Cơ quan THAHS có thẩm quyền;
  • - PV06; PC10;
  • - Chi cục THADS quận Dương Kinh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú,
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm ĐÌnh Q - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger